THỜI ĐẠI PHI ĐẠO ĐỨC(1)

Liệu Mỹ có thể cứu vãn Trật tự Tự Do bằng các Phương Tiện Phản Tự Do?


Hal Brands
Foreign Affairs
March/April 2024
 
 
 

Chloe Cushman

Nhà thần học Reinhold Niebuhr đã viết vào năm 1946: “Chúng ta phải làm bao nhiêu điều ác để có được điều tốt”. “Tôi nghĩ đây là một tuyên bố rất ngắn gọn về hoàn cảnh của con người”. Niebuhr viết sau chiến tranh thế giới đã buộc những kẻ chiến thắng phải làm điều ác kinh khủng để ngăn chặn cái ác lớn lao khôn lường của một thế giới được cai trị bởi những chế độ hung hãn nhất. Ông đang chứng kiến sự khởi đầu của một cuộc xung đột toàn cầu khác mà Hoa Kỳ một cách định kỳ vi phạm các giá trị của chính mình để bảo vệ chúng. Nhưng câu hỏi cơ bản mà Niebuhr nêu ra là vô hạn: Làm thế nào các quốc gia tự do có thể dung hòa xứng đáng những mục đích với các phương tiện bất đồng cần thiết để đạt được chúng. Đây là một trong những nan đề khó chịu nhất mà Hoa Kỳ phải đối mặt hiện nay.

Tổng Thống Mỹ J. Biden nhậm chức cam kết quyết tâm đấu tranh sống còn giữa dân chủ và độc tài. Sau khi Russia xâm lăng Ukraine, ông triệu tập những quốc gia cùng “chí hướng” tham gia cuộc đấu tranh “giữa Tự do và đàn áp, giữa trật tự pháp trị và trật tự cai trị bằng bạo lực.” Đội ngũ của Biden thực sự đã có những bước đi lớn trong cuộc đấu tranh với Trung Quốc và Nga, củng cố tình đoàn kết giữa các nền dân chủ tiên tiến muốn bảo vệ tự do bằng cách kiểm soát các chế độ quyền lực chuyên chế. Nhưng ngay cả trước khi cuộc chiến giữa Hamas và Israel bộc lộ hàng loạt vấn đề của riêng mình, một chính quyền chủ tâm bản chất ý thức hệ về sự đối đầu giữa các cường quốc đã nhận thấy mình bị mắc kẹt trong một thế giới mơ hồ về mặt đạo đức.

Ở châu Á, Biden đã phải uốn mình thuyết phục một Ấn Độ đang thụt lùi, một Việt Nam cộng sản và các quốc gia không tự do khác. Ở châu Âu, các yêu cầu cấp thiết trong thời chiến đã làm giảm đi những lo ngại về chủ nghĩa độc tài đang gia tăng ở mặt trận phía đông và phía nam của NATO. Ở Trung Đông, Biden đã kết luận rằng các nhà độc tài Ả Rập không phải là những kẻ bỏ đi mà là những đối tác quan trọng. Bảo vệ một trật tự đang bị đe dọa liên quan đến việc hồi sinh cộng đồng thế giới tự do. Rõ ràng, nó cũng đòi hỏi phải củng cố một vòng cung các nền dân chủ không hoàn hảo và các chế độ hoàn toàn chuyên chế trên khắp thế giới.

Chiến lược mâu thuẫn của Biden phản ánh thực tế của việc xây dựng liên minh đương đại: khi nói đến việc chống lại Trung Quốc và Nga, các liên minh dân chủ chỉ tiến xa đến vậy. Cách tiếp cận của Biden cũng phản ánh tình trạng căng thẳng sâu sắc, lâu dài hơn. Lợi ích của Mỹ gắn bó chặt chẽ với các giá trị của Mỹ: Hoa Kỳ đặc trưng tham gia vào cuộc cạnh tranh của các cường quốc vì lo ngại các chế độ chuyên quyền hùng mạnh sẽ khiến cho nền dân chủ thế giới không an toàn. Nhưng ở một mức độ nào đó, thời đại xung đột vẫn luôn trở thành thời đại của vô đạo đức bởi vì cách duy nhất để bảo vệ một thế giới phù hợp với tự do là tranh thủ những đối tác không trong sạch và tham gia vào các hành vi không trong sạch.

Mong đợi nhiều hơn về điều này. Nếu lợi ích của các cuộc cạnh tranh ngày nay cao như Biden tuyên bố, Washington sẽ thực hiện một số hành vi tồi tệ ngoạn mục để kiềm chế đối thủ của mình. Nhưng đặc tính thủ đoạn thuần túy tiềm ẩn nhiều nguy hiểm, từ sự vỡ mộng trong nước đến sự đánh mất sự bất cân xứng đạo đức vốn từ lâu đã phóng đại ảnh hưởng của Mỹ trong các vấn đề toàn cầu. Đối với một siêu cường tự do, chiến lược là nghệ thuật cân bằng quyền lực mà không phá vỡ mục đích dân chủ. Hoa Kỳ sắp khám phá lại được điều đó khó đến mức nào.

TRÒ CHƠI BẨN

Biden luôn đúng về một điều: xung đột giữa các cường quốc là xung đột về ý tưởng và lợi ích. Vào thế kỷ XVII, Cuộc Chiến tranh Ba mươi năm được thúc đẩy bởi những khác biệt về học thuyết không kém gì cuộc đấu tranh giành quyền bá chủ ở châu Âu. Vào cuối thế kỷ 18, nền chính trị của nước Pháp cách mạng đã làm thay đổi tình hình địa chính trị của toàn lục địa. Chiến tranh thế giới thứ hai là sự va chạm giữa các truyền thống đối địch chính trị – chế độ dân chủ và chủ nghĩa độc tài – cũng như các liên minh đối địch. Bộ trưởng Ngoại giao Đức Joachim von Ribbentrop tuyên bố vào năm 1940: “Đây không phải là một cuộc chiến ngẫu nhiên, mà là vấn đề quyết tâm của một hệ thống này tiêu diệt hệ thống kia.” Khi các cường quốc chiến đấu, họ làm như vậy không chỉ vì đất đai và vinh quang. Họ đấu tranh xem ý tưởng nào, giá trị nào sẽ vạch ra hướng đi của nhân loại.

Theo nghĩa này, sự cạnh tranh của Mỹ với Trung Quốc và Nga là vòng mới nhất trong cuộc đấu tranh lâu dài về việc liệu thế giới sẽ được định hình bởi các nền dân chủ tự do hay kẻ thù độc tài của họ. Trong Thế chiến I, Thế chiến II và Chiến tranh Lạnh, các chế độ chuyên chế ở Âu Á đã tìm kiếm vị thế đứng đầu toàn cầu bằng cách đạt được vị thế ưu việt trong vùng đất trung tâm đó. Ba lần, Hoa Kỳ đã can thiệp, không chỉ để đảm bảo an ninh mà còn để duy trì sự cân bằng quyền lực cho phép chủ nghĩa tự do tồn tại và mở rộng – để “làm cho thế giới trở nên an toàn cho nền dân chủ,” theo lời của Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson. Tổng thống Franklin Roosevelt đã đưa ra quan điểm tương tự vào năm 1939 khi nói rằng: “Đến lúc công việc của con người là họ phải chuẩn bị để bảo vệ, không chỉ quê hương của mình mà còn là những nguyên lý về đức tin và lòng nhân đạo mà giáo hội, chính phủ và chính nền văn minh của họ đã được thành lập.” Tuy nhiên, như Roosevelt hiểu, cân bằng quyền lực là một trò chơi bẩn thỉu.

Các nền dân chủ phương Tây thắng thế trong Thế chiến thứ hai chỉ bằng cách giúp đỡ một tên bạo chúa khủng khiếp, Joseph Stalin, đè bẹp một kẻ thù thậm chí còn khủng khiếp hơn, Adolf Hitler. Họ sử dụng chiến thuật như ném bom lửa và bom nguyên tử vào các thành phố của kẻ thù, những chiến thuật đó sẽ trở nên ghê tởm trong những thời điểm ít tuyệt vọng hơn. Sau đó, Hoa Kỳ tiến hành Chiến tranh Lạnh vì niềm tin, như Tổng thống Harry Truman đã tuyên bố, rằng đó là một cuộc xung đột “giữa các lối sống khác nhau”; những đồng minh thân cận nhất của Hoa Kỳ là thành viên dân chủ đã tạo nên thế giới phương Tây. Nhưng việc giữ vững chiến tuyến trong một cuộc đấu tranh có nguy cơ cao cũng liên quan đến một số hành động đáng nghi ngờ sâu sắc, thậm chí phản dân chủ.

Thế giới thứ ba biến động vì bất ổn, Hoa Kỳ đã sử dụng những bạo chúa cánh hữu như người ủy quyền đàn áp ảnh hưởng của cộng sản thông qua các cuộc đảo chính, các cuộc can thiệp bí mật và công khai, cũng như các cuộc chống nổi dậy với số người chết đáng kinh ngạc. Để ngăn chặn sự xâm lược trên phạm vi toàn cầu, Lầu Năm Góc tin vào sự đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân có sức tàn phá khủng khiếp đến mức việc sử dụng chúng thực sự không thể mang lại mục đích mang tính xây dựng. Để khép lại vòng vây bao quanh Liên Xô, Washington cuối cùng đã hợp tác với một kẻ cộng sản sát nhân khác, nhà lãnh đạo Trung Quốc Mao Trạch Đông. Và để làm nhẹ chính sách ngăn chặn chính trị, các quan chức Mỹ đôi khi phóng đại mối đe dọa của Liên Xô hoặc đơn giản là lừa dối người dân Mỹ về các chính sách được thực hiện dưới danh nghĩa của họ.

Chiến lược liên quan đến việc hành xử ưu tiên, và các viên chức Hoa Kỳ tin rằng làm những điều xấu xa nhỏ để tránh những tệ nạn lớn hơn, chẳng hạn như chủ nghĩa cộng sản bạo loạn ở các khu vực sống còn hoặc những nền dân chủ thất bại không tìm được sức mạnh và mục tiêu của mình trước khi quá muộn. Phần thưởng cuối cùng từ chiến thắng của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Lạnh: một thế giới an toàn hơn trước độc tài xâm lược, và tự do con người hơn bao giờ hết, về mặt cân bằng, họ đã đúng. Sự kiện Washington theo đuổi một mục tiêu xứng đáng như vậy, chống lại một đối thủ đê tiện, đã mang lại sự an ủi nhất định cho những mơ hồ đạo đức của cuộc xung đột. Như NSC-68, tài liệu chiến lược có ảnh hưởng mà Truman phê duyệt năm 1950, đã nói (trích dẫn Alexander Hamilton), “Các phương tiện được sử dụng phải cân xứng với mức độ của mối nguy hại”. Khi phương Tây đang phải đối mặt với một kẻ thù độc tài chuyên chế quyết tâm tái tạo nhân loại theo hình ảnh của nó, một số biện pháp kinh khiếp dường như có thể được biện minh.

Tuy nhiên, nguồn an ủi đó không phải vô hạn và Chiến tranh Lạnh đã chứng kiến những cuộc đấu tranh gay gắt về việc liệu Hoa Kỳ có thực hiện đúng các ưu tiên của mình hay không. Vào những năm 1950, những kẻ diều hâu đã chỉ trích Washington đã không làm đủ để đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu, với cương lĩnh của Đảng Cộng hòa năm 1952 coi chính sách ngăn chặn là “tiêu cực, vô ích và vô đạo đức”. Trong những năm 1960 và 1970, một loạt các vụ phi đạo đức – một cuộc chiến đẫm máu và đê tiện ở Việt Nam, sự ủng hộ cho một nhóm độc tài xấu xa, những tiết lộ về âm mưu ám sát của CIA – đã thuyết phục nhiều nhà phê bình cấp tiến rằng Hoa Kỳ đang phản bội các giá trị mà nước này tuyên bố bảo vệ. Trong khi đó, việc theo đuổi chính sách hòa dịu với Liên Xô, một chiến lược coi nhẹ sự đối đầu về ý thức hệ nhằm tìm kiếm sự ổn định ngoại giao, đã khiến một số người bảo thủ cáo buộc rằng Washington đang từ bỏ nền tảng đạo đức cao cả. Trong suốt những năm 1970 và sau đó, những cuộc tranh luận này đã tác động mạnh mẽ đến chính sách của Hoa Kỳ. Ngay cả trong cuộc thi mang tính Manichean nhất này, chiến lược liên quan đến đạo đức vẫn là một thách thức liên tục.

Trên thực tế, những hành vi sai trái trong Chiến tranh Lạnh đã dẫn đến một loạt ràng buộc phức tạp về mặt pháp lý và hành chính - từ các lệnh cấm ám sát chính trị đến yêu cầu thông báo cho các ủy ban quốc hội về hành động bí mật - hầu hết vẫn còn hiệu lực cho đến ngày nay. Kể từ Chiến tranh Lạnh, những hạn chế này đã được bổ sung bằng việc hạn chế viện trợ cho những kẻ đảo chính lật đổ các chính phủ dân cử, và cho các đơn vị quân đội có hành vi vi phạm nhân quyền trắng trợn. Người Mỹ rõ ràng lấy làm tiếc về một số biện pháp họ đã sử dụng để giành chiến thắng trong Chiến tranh Lạnh. Câu hỏi đặt ra là liệu họ có thể hoạt động mà không cần đến chúng khi sự kình địch toàn cầu lại nóng lên hay không.

VẤN ĐỀ Ý TƯỞNG

Các mối đe dọa từ những kẻ thù độc tài làm tăng thêm xung lực ý thức hệ trong chính sách của Hoa Kỳ bằng cách nhấn mạnh sự xung đột về ý tưởng thường gây ra căng thẳng toàn cầu. Kể từ khi nhậm chức, Biden đã xác định mối đe dọa từ các đối thủ của Mỹ, đặc biệt là Trung Quốc, bằng những thuật ngữ ý thức hệ rõ ràng.

Thế giới đã đạt đến “đỉnh điểm”, Biden đã nhiều lần tuyên bố. Vào tháng 3 năm 2021, ông gợi ý rằng các nhà sử học tương lai sẽ nghiên cứu “vấn đề ai thành công: chế độ chuyên quyền hay dân chủ”. Về cơ bản, Biden đã lập luận, cạnh tranh Mỹ-Trung là cuộc thử nghiệm xem mô hình nào có thể đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thời hiện đại. Và nếu Trung Quốc trở thành cường quốc hàng đầu thế giới, các quan chức Mỹ lo ngại, nước này sẽ củng cố chế độ chuyên chế ở các quốc gia thân thiện đồng thời ép buộc các chính phủ dân chủ ở các quốc gia trở thành thù địch. Hãy chứng kiến cách Bắc Kinh sử dụng đòn bẩy kinh tế để trừng phạt những lời chỉ trích chính sách của họ bởi các tổ chức xã hội dân chủ từ Úc đến Na Uy. Để làm cho hệ thống an toàn đối với chủ nghĩa phản tự do, một nước Trung Quốc thống trị sẽ khiến nó không an toàn đối với chủ nghĩa tự do gần xa.

Việc Nga xâm lược Ukraine đã củng cố luận điểm của Biden. Nó đưa ra một nghiên cứu điển hình về sự chuyên quyền hung hăng và tàn bạo, đồng thời đưa ra lời cảnh báo rằng một thế giới do các quốc gia phản tự do lãnh đạo sẽ bạo lực chết người, nhất là đối với các nền dân chủ dễ bị tổn thương gần đó. Vài tuần sau khi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Nga Vladimir Putin ký kết quan hệ đối tác chiến lược “không giới hạn”, cuộc xâm lược Ukraine cũng làm dấy lên mối lo ngại về một cuộc tấn công chuyên quyền có phối hợp vào trật tự quốc tế tự do. Biden giải thích rằng Ukraine là mặt trận trung tâm trong một “cuộc chiến lớn hơn vì . . . nguyên tắc dân chủ thiết yếu.” Vì vậy, Hoa Kỳ sẽ tập hợp thế giới tự do chống lại “kẻ tử thù của nền dân chủ”.

Biden phát biểu tại Warsaw, Poland, February 2023

Evelyn Hockstein / Reuters

Cú sốc của cuộc chiến Ukraine, kết hợp với sự lãnh đạo vững chắc của Hoa Kỳ, đã tạo ra một liên minh dân chủ xuyên Đại Tây Dương mở rộng. Thụy Điển và Phần Lan tìm kiếm tư cách thành viên NATO; phương Tây ủng hộ Ukraine và gây thiệt hại nặng nề cho Nga. Chính quyền Biden cũng tìm cách hạn chế Trung Quốc bằng cách dệt nên một mạng lưới các mối quan hệ dân chủ bao quanh đất nước Trung Quốc. Nâng cấp các liên minh song phương như Nhật Bản và Australia. Nó đã cải thiện Quad (đối thoại an ninh và ngoại giao với Australia, Ấn Độ và Nhật Bản) và thiết lập AUKUS (quan hệ đối tác quân sự với Australia và Vương quốc Anh). Và họ đã điều chỉnh lại mục tiêu của các tổ chức đa phương hiện có, chẳng hạn như G-7, để đối phó với mối nguy hiểm từ Bắc Kinh. Thậm chí còn có những lời đồn đoán về một liên minh “ba cộng một” – Úc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, cộng với Đài Loan – sẽ hợp tác để bảo vệ nền dân chủ tuyến đầu khỏi sự tấn công của Trung Quốc.

Những mối quan hệ này vượt qua ranh giới khu vực. Ukraine đang nhận được viện trợ từ các nền dân chủ châu Á, chẳng hạn như Hàn Quốc, vốn hiểu rằng an ninh của họ sẽ bị ảnh hưởng nếu trật tự tự do bị rạn nứt. Các nền dân chủ từ nhiều châu lục đã cùng nhau đối đầu với sự ép buộc kinh tế của Trung Quốc, chống lại sự tăng cường quân sự của nước này và hạn chế khả năng tiếp cận các chất bán dẫn cao cấp của nước này. Vấn đề chính đối với Hoa Kỳ là một liên minh lỏng lẻo của các cường quốc theo chủ nghĩa xét lại đang vươn ra khỏi cốt lõi của lục địa Á-Âu. Câu trả lời của Biden là một liên minh toàn cầu liên kết giữa các nền dân chủ, phản công lại ngay từ ban đầu.

Ngày nay, các nền dân chủ tiên tiến đó đã thống nhất hơn bao giờ hết trong nhiều thập kỷ qua. Về mặt này, Biden đã điều chỉnh mục tiêu thiết yếu trong chiến lược của Hoa Kỳ, bảo vệ trật tự tự do đang gặp nguy hiểm, với các phương pháp và đối tác sử dụng để theo đuổi nó. Tuy nhiên, trên khắp ba khu vực trọng điểm của lục địa Á-Âu, thực tế cạnh tranh phức tạp hơn đang đặt ra câu hỏi mới cho Niebuhr.

BẠN BÈ TRANH CÃI

Hãy xem xét tình hình ở châu Âu. NATO chủ yếu là một liên minh của các chế độ dân chủ. Nhưng việc cùng nhau duy trì hiệp ước đó trong cuộc chiến tranh Ukraine đã yêu cầu Biden phải hạ thấp xu hướng phản tự do của chính phủ Ba Lan – cho đến khi thất bại trong cuộc bầu cử vào tháng 10 – đã làm xói mòn các cơ chế kiểm tra và cân bằng một cách có hệ thống. Việc bảo vệ sườn phía bắc của mình bằng cách chào đón Phần Lan và Thụy Điển bao gồm cả việc trao đổi ngoại giao với Recep Tayyip Erdogan của Thổ Nhĩ Kỳ, nhà lãnh đạo ngoài việc thường xuyên làm suy yếu các lợi ích của Mỹ, còn đưa đất nước của mình theo hướng cai trị chuyên quyền.

Ở châu Á, chính quyền đã dành phần lớn thời gian trong năm 2021 và 2022 để cẩn thận duy trì mối quan hệ của Mỹ với Philippines vào thời điểm Rodrigo Duterte lãnh đạo, người mà cuộc chiến ma túy đã giết chết hàng nghìn người. Biden đã tích cực lôi kéo Ấn Độ như một bức tường thành chống lại Trung Quốc, mặc dù chính phủ của Thủ tướng Narendra Modi đã hạn chế ngôn luận, quấy rối các nhà lãnh đạo đối lập, gây bất bình về tôn giáo và bị cáo buộc giết hại những người bất đồng chính kiến ở nước ngoài. Và sau khi đến thăm New Delhi vào tháng 9 năm 2023, Biden đã tới Hà Nội để ký kết “quan hệ đối tác chiến lược toàn diện” với chế độ độc đảng của Việt Nam. Một lần nữa, Hoa Kỳ đang sử dụng một số nhân vật cộng sản để kiềm chế những người khác.

Sau đó là Trung Đông, nơi liên minh “thế giới tự do” của Biden là một nhóm hỗn tạp. Vào năm 2020, Biden đe dọa sẽ biến Ả Rập Saudi thành “kẻ bỏ đi tệ hại” vì vụ sát hại nhà báo Jamal Khashoggi. Đến năm 2023, chính quyền của ông – hoảng sợ trước sự xâm nhập của Trung Quốc và giá khí đốt tăng cao – cố gắng biến quốc gia đó trở thành đồng minh hiệp ước mới nhất của Washington. Hơn nữa, sáng kiến đó là một phần của khái niệm được kế thừa từ chính quyền Trump, trong đó sự ổn định trong khu vực sẽ dựa trên sự xích lại gần nhau giữa các chế độ chuyên quyền Ả Rập và một chính phủ Israel có khuynh hướng phản tự do, trong khi nguyện vọng của người Palestine hầu hết bị đẩy sang một bên. Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi nhân quyền và tự do chính trị bị suy giảm trong quan hệ với các quốc gia từ Ai Cập đến Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Biden cũng đã làm được rất ít để ngăn chặn sự bóp nghẹt dân chủ ở Tunisia — giống như ông đã quyết định từ bỏ nền dân chủ đang gặp nguy hiểm của Afghanistan vào năm 2021 một cách hiệu quả.

Quả thực, nếu năm 2022 là một năm của những lời hùng biện tăng cao thì năm 2023 là một năm của những thích nghi vụng về. Việc đề cập đến “cuộc chiến giữa dân chủ và chuyên chế” trở nên hiếm hoi hơn trong các bài phát biểu của Biden, khi chính quyền thực hiện những vở kịch lớn thách thức mô tả đó của thế giới. Các vị trí chủ chốt liên quan đến nhân quyền tại Nhà Trắng và Bộ Ngoại giao vẫn còn trống. Chính quyền đã dỡ bỏ các biện pháp trừng phạt đối với Venezuela - một sáng kiến được công khai mô tả là nỗ lực nhằm đảm bảo các cuộc bầu cử tự do và công bằng hơn, nhưng chủ yếu là nỗ lực nhằm khiến một chế độ áp bức ngừng xuất khẩu người tị nạn và bắt đầu xuất khẩu thêm dầu hỏa. Và khi chính quyền lật đổ chính phủ dân cử của Niger, các quan chức Mỹ đã đợi hơn hai tháng để gọi cuộc đảo chính là đảo chính, vì sợ gây ra việc cắt viện trợ của Mỹ và từ đó đẩy chế độ mới vào vòng tay của Moscow. Những thỏa hiệp như vậy luôn là một phần của chính sách đối ngoại. Nhưng ngày nay, chúng minh chứng cho những động lực chủ chốt mà các quan chức Mỹ phải đương đầu.

THẬP KỶ QUYẾT ĐỊNH

Đầu tiên là bài toán tàn khốc của địa chính trị Á-Âu. Các nền dân chủ tiên tiến sở hữu quyền lực vượt trội trên toàn cầu, nhưng ở mỗi khu vực quyết định, giữ vững tuyến đầu đòi hỏi một toàn thể chiết trung hơn.

Ba Lan có những vấn đề trong nước; nó cũng là trụ cột hậu cần của liên minh ủng hộ Ukraine. Thổ Nhĩ Kỳ phản tự do về mặt chính trị và thường không tích sự gì; tuy nhiên, nó là nơi giao nhau của hai lục địa và hai đại dương. Ở Nam và Đông Nam Á, rào cản chính đối với bá quyền Trung Quốc là dòng đối tác kém lý tưởng chạy từ Ấn Độ đến Indonesia. Ở Trung Đông, một siêu cường kén chọn sẽ là một siêu cường cô độc. Đoàn kết dân chủ thì lớn lao, nhưng địa lý thì ương ngạnh. Trên khắp lục địa Á-Âu, Washington cần những người bạn phản tự do để kiềm chế những kẻ thù phản tự do của mình.

Mặt trận ý thức hệ cũng đã chuyển theo chiều hướng bất lợi. Trong Chiến tranh Lạnh, chủ nghĩa chống cộng đóng vai trò là chất kết dính ý thức hệ giữa một siêu cường dân chủ với các đồng minh chuyên quyền, bởi vì các đồng minh chuyên quyền biết rằng họ sẽ tiêu tùng nếu Liên Xô chiến thắng. Tuy nhiên, giờ đây các kẻ thù của Hoa Kỳ đặc trưng một hình thức chuyên chế ít đe dọa đến sự tồn tại của các nền phi dân chủ khác: những kẻ độc tài ở Vịnh Ba Tư, hoặc ở Hungary và Thổ Nhĩ Kỳ, được cho là có nhiều điểm chung với Tập và Putin hơn là với Biden. Khoảng cách giữa những nhà độc tài “tốt” và “xấu” đã thu hẹp hơn trước đây—điều này khiến Hoa Kỳ phải làm việc cực khổ hơn và trả nhiều tiền hơn để giữ các đối tác phản tự do ở bên cạnh một cách không hoàn hảo. Những thời điểm tuyệt vọng cũng kêu gọi các biện pháp khéo léo về mặt đạo đức. Khi Washington không phải đối mặt với những thách thức chiến lược nghiêm trọng nào sau Chiến tranh Lạnh, họ đã phải trả một mức phạt nhỏ hơn cho việc nêu bật các giá trị của mình. Khi biên độ an toàn thu hẹp lại, sự đánh đổi giữa quyền lực và nguyên tắc sẽ tăng lên. Hiện nay, chiến tranh—hoặc mối đe dọa của nó—đang đe dọa Đông Á, Châu Âu và Trung Đông. Biden cho rằng thập niên 2020s sẽ là “thập kỷ quyết định” đối với thế giới. Như Winston Churchill đã châm biếm vào năm 1941, “Nếu Hitler xâm chiếm Địa ngục, ít nhất tôi sẽ đưa ra một ý kiến có lợi cho Ác quỷ trong Hạ viện.” Khi các mối đe dọa trở nên nghiêm trọng, các nền dân chủ sẽ làm những gì cần thiết để tập hợp các liên minh và ngăn chặn kẻ thù đột phá. Do đó, điều trớ trêu chính trong cách tiếp cận cạnh tranh của Washington là chính những thách thức tác động năng lực ý thức hệ của họ lại khiến cho việc giữ cho nền ngoại giao của Mỹ trong sạch trở nên khó khăn hơn.

Cho đến nay, những thỏa hiệp về mặt đạo đức trong chính sách của Hoa Kỳ ngày nay vẫn còn khiêm tốn so với những thỏa hiệp trong Thế chiến II hay Chiến tranh Lạnh, một phần vì những hạn chế đối với các phương pháp tồi tệ dữ dội hơn so với thời Hitler và Stalin quấy nhiễu trái đất. Nhưng các quy tắc và chuẩn mực có thể thay đổi tùy theo hoàn cảnh quốc gia. Vì vậy, Biden và những người kế nhiệm ông có thể sớm phải đối mặt với một thực tế khó khăn: sự cạnh tranh khốc liệt đẩy các quốc gia và các nhà lãnh đạo đến những nơi mà họ không bao giờ muốn đến.

Khi Chiến tranh Lạnh bắt đầu, ít quan chức tưởng tượng rằng Washington sẽ tiến hành các hoạt động can thiệp bí mật từ Afghanistan đến Angola. Chỉ ba năm trước, khó ai có thể dự đoán rằng Mỹ sẽ sớm tiến hành một cuộc chiến ủy nhiệm nhằm tiêu diệt quân đội của Putin ở Ukraine. Khi các cuộc cạnh tranh hiện nay trở nên khốc liệt hơn, các chiến thuật được sử dụng để bắt đầu có thể trở nên cực đoan hơn.

Washington có thể thấy mình đang ngấm ngầm cố gắng nhằm tạo sự cân bằng trong các cuộc bầu cử ở một quốc gia cốt yếu đu dây nào đó nếu sự lựa chọn là chứng kiến quốc gia đó chuyển hướng mạnh mẽ sang Moscow hoặc Bắc Kinh. Nó có thể sử dụng biện pháp cưỡng bức để giữ các cơ sở quân sự và cơ sở hạ tầng quan trọng khác của Mỹ Latinh không lọt vào tay Trung Quốc. Và nếu Hoa Kỳ vốn đã có thái độ nước đôi về việc thừa nhận các cuộc đảo chính ở những quốc gia ngoài tầm với, có lẽ nước này sẽ tha thứ cho những hành động tàn bạo lớn hơn nhiều do một đối tác thiết yếu thực hiện ở một địa điểm trọng yếu hơn.

Những kẻ nghi ngờ việc Washington sẽ dùng đến những thủ đoạn bẩn thỉu đều có trí nhớ thiếu thốn và trí tưởng tượng hạn chế. Nếu các cuộc cạnh tranh ngày nay thực sự định hình số phận của nhân loại, tại sao một siêu cường cảnh giác lại không làm hầu hết mọi việc để đứng lên đầu?

ĐỪNG ĐÁNH MẤT CHÍNH MÌNH

Không có lý do gì để phải xấu hổ quá mức về điều này. Một quốc gia thiếu tự tin bảo vệ lợi ích của mình sẽ thiếu sức mạnh để đạt được bất kỳ mục đích lớn lao nào trong các vấn đề toàn cầu. Nói cách khác, thiệt hại mà Hoa Kỳ gây ra cho các giá trị của mình bằng cách lôi kéo các đồng minh không đáng tin cậy và tham gia vào các hành vi đáng ngờ chắc chắn sẽ ít hơn thiệt hại sẽ xảy ra nếu một nước Nga quá hiếu chiến hoặc một Trung Quốc theo chế độ tân toàn trị mở rộng ảnh hưởng của mình ra khắp Á-Âu và xa hơn nữa. Giống như trong Chiến tranh Lạnh, Hoa Kỳ cuối cùng có thể trả được những món nợ đạo đức mà nó phải gánh chịu trong một cuộc đấu tranh lâu dài – nếu nó duy trì thành công một hệ thống trong đó nền dân chủ phát triển mạnh mẽ vì những kẻ thù hung hãn nhất của nó bị loại trừ.

Tuy nhiên, sẽ rất nguy hiểm nếu chấp nhận thuần túy tinh thần cứu cánh biện minh cho phương tiện, bởi vì luôn có lúc mà điều xấu xa có nghĩa làm hư hỏng cứu cánh tốt đẹp. Ngay cả khi thiếu điều đó, tình trạng phi đạo đức hàng loạt sẽ chứng tỏ sự mục nát chính trị: một quốc gia mà người dân tập hợp lại để bảo vệ các giá trị cũng như lợi ích của mình sẽ không thể mãi mãi ủng hộ một chiến lược dường như gạt bỏ những giá trị đó sang một bên. Và cuối cùng, lỗ hổng lớn nhất của một chiến lược như vậy làm mất đi lợi thế tiềm tàng của Mỹ.

Trong Thế chiến thứ hai, như nhà sử học Richard Overy đã lập luận, mục tiêu của Đồng minh được nhiều người coi là công bằng và nhân đạo hơn mục đích của phe Trục, đó là một lý do khiến cựu liên minh thu hút nhiều quốc gia hơn về sau. Trong Chiến tranh Lạnh, ý thức rằng Hoa Kỳ ủng hộ các quyền và tự do cơ bản mà Điện Kremlin đàn áp đã giúp Washington thu hút các tập hợp xã hội dân chủ khác – và thậm chí cả những người bất đồng chính kiến trong khối Xô Viết. Chiến thuật cạnh tranh của các cường quốc không được làm lu mờ vấn đề trọng tâm của cuộc cạnh tranh đó. Nếu thế giới coi các cuộc đối đầu ngày nay là những cuộc đánh đấm không mang ý nghĩa đạo đức lớn hơn, thì Hoa Kỳ sẽ mất đi sự bất cân xứng hợp pháp vốn đã mang lại lợi ích cho họ.

Đây không phải là một số giả định nan đề. Kể từ tháng 10 năm 2023, Biden đã đúng khi coi cuộc chiến Israel-Hamas là cuộc đấu tranh giữa một nền dân chủ thiếu sót và một kẻ thù độc tài đang tìm cách hủy diệt nó. Có sự biện minh mạnh mẽ, về mặt đạo đức và chiến lược, để ủng hộ một đồng minh của Hoa Kỳ chống lại kẻ ủy quyền xấu xa thù địch của Hoa Kỳ, Iran. Hơn nữa, không có sự so sánh nghiêm túc về mặt đạo đức giữa một nhóm khủng bố hãm hiếp, tra tấn, bắt cóc và giết hại dân thường và một quốc gia chủ yếu cố gắng, trong cuộc chiến tranh giới hạn áp đặt, để bảo vệ họ.

Tuy nhiên, đúng hay sai, phần lớn miền Nam bán cầu coi cuộc chiến là minh chứng cho tiêu chuẩn kép của Mỹ: phản đối việc Nga chiếm đóng và chiếm đoạt lãnh thổ nước ngoài chứ không phải bởi Israel, coi trọng mạng sống và quyền tự do của một số nạn nhân hơn của những nạn nhân khác. Các nhà tuyên truyền Nga và Trung Quốc đang khuếch đại những thông điệp này để gây chia rẽ giữa Washington và thế giới đang phát triển. Đây là lý do tại sao chính quyền Biden đã cố gắng, và đôi khi gặp khó khăn, để cân bằng giữa sự hỗ trợ dành cho Israel với nỗ lực giảm thiểu tác hại mà xung đột mang lại — và tại sao cuộc chiến có thể báo trước sự tập trung mới của Hoa Kỳ vào tiến trình hòa bình với người Palestine, vốn không mấy hứa hẹn như hiện nay. Bài học ở đây là giá trị của một vấn đề có thể bị tranh cãi, nhưng đối với một siêu cường luôn che giấu các giá trị của mình, cái giá phải trả cho hành vi đạo đức giả được cho là rất thực tế.

QUY TẮC ĐỐI ĐẦU

Do đó, để thành công trong vòng đối đầu này sẽ đòi hỏi phải điều chỉnh những thỏa hiệp về mặt đạo đức vốn có trong chính sách đối ngoại bằng cách tìm ra một đặc tính vừa đủ tàn nhẫn đồng thời vừa thực tế. Mặc dù không có công thức chính xác cho vấn đề này – tính phù hợp của bất kỳ hành động nào đều phụ thuộc vào bối cảnh của nó – một số nguyên tắc hướng dẫn có thể hữu ích.

Thứ nhất, đạo đức là một chiếc la bàn chứ không phải một chiếc áo trói buộc. Để có được sự bền vững về chính trị và lợi ích chiến lược, nghệ thuật lãnh đạo của Mỹ nên hướng tới một thế giới nhất quán với các giá trị của họ. Nhưng Hoa Kỳ không thể tự làm mình tê liệt bằng cách cố gắng thể hiện đầy đủ những giá trị đó trong mọi quyết định chiến thuật. Cũng như – ngay cả vào thời điểm nền dân chủ của chính họ phải đối mặt với những mối đe dọa bên trong – họ nên nhất quyết thanh lọc chính mình trong nước trước khi xây dựng ảnh hưởng ở nước ngoài. Nếu làm như vậy, hệ thống sẽ được định hình bởi các chế độ tàn nhẫn hơn – và ít bị trói buộc bởi sự không hoàn hảo của chính họ.

Hoa Kỳ cũng nên tránh ảo tưởng về sự thay thế giả tạo. Nó phải đánh giá các lựa chọn và đối tác, chống lại những khả tính hợp lý chứ không chống lại lý tưởng không tưởng. Sự chấp nhận thực tế cho việc duy trì mối quan hệ với một chế độ quân sự ở Châu Phi có thể là chứng kiến lấp đầy khoảng trống bằng những tên lính đánh thuê sát nhân của Nga. Sự chấp nhận thực tế Ấn Độ cho việc cam kết của ông Modi có thể chứng kiến Nam Á ngày càng rơi vào cái bóng của một Trung Quốc luôn cần mẫn xuất khẩu chủ nghĩa phản tự do. Tương tự như vậy, việc ở gần một chế độ Ả-rập Xê-út vốn luôn chỉ trích chế độ này là điều vô cùng khó chịu. Nhưng chấp nhận thực tế đối với Thái tử Ả Rập Saudi Mohammed bin Salman có lẽ là một chế độ hầu như vẫn duy trì đàn áp - và còn xa cam kết trao quyền cho phụ nữ, kiềm chế những người cuồng tín tôn giáo, và mặt khác làm cho đất nước trở thành một nơi cởi mở, khoan dung hơn. Trong một thế giới có nhiều lựa chọn tệ hại, câu hỏi cấp thiết thường là: Tệ hại so với cái gì?

Một nguyên tắc hướng dẫn khác: những điều tốt đẹp không đến cùng một lúc. Các nhà hoạch định chính sách thời Chiến tranh Lạnh đôi khi biện minh cho việc thực hiện đảo chính và ủng hộ các chế độ đàn áp với lý do ngăn cản các nước thuộc Thế giới thứ ba đi theo chủ nghĩa cộng sản để bảo toàn khả năng họ có thể tiến tới dân chủ sau này. Logic đó thuận tiện một cách đáng ngờ - và trong nhiều trường hợp, nó đúng. Các quốc gia ở Châu Mỹ Latinh và các khu vực đang phát triển khác cuối cùng đã trải qua sự cởi mở về chính trị khi họ đạt đến trình độ phát triển cao hơn và các giá trị dân chủ lan tỏa từ phương Tây.

Ngày nay, những món hời không đáng có đôi khi có thể dẫn đến những kết quả tốt hơn. Bằng cách không phá vỡ liên minh Mỹ-Philippines trong cuộc chiến chống ma túy của Duterte, Washington đã duy trì mối quan hệ này cho đến khi một chính phủ hợp tác hơn, bớt hà khắc hơn xuất hiện. Bằng cách gần gũi chính phủ Ba Lan có một số xu hướng đáng lo ngại, Hoa Kỳ đã câu giờ cho đến cuối năm ngoái, cử tri của nước này đã bầu ra một liên minh hứa hẹn sẽ củng cố các thể chế dân chủ của mình. Lập luận tương tự có thể được đưa ra để tiếp tục hợp tác với các nền dân chủ khác, nơi xu hướng chuyên quyền được thể hiện rõ ràng nhưng các cơ chế bầu cử vẫn còn nguyên vẹn – Hungary, Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ, chỉ kể tên một vài quốc gia. Nói rộng hơn, chủ nghĩa tự do có nhiều khả năng phát triển mạnh mẽ nhất trong một hệ thống được lãnh đạo bởi một nền dân chủ. Vì vậy, chỉ cần ngăn chặn sự trỗi dậy của các chế độ chuyên quyền đầy quyền lực cuối cùng có thể giúp các giá trị dân chủ lan rộng đến những nơi từng không mấy thân thiện.

Tương tự như vậy, Hoa Kỳ nên nhớ rằng việc có tầm nhìn rộng cũng quan trọng như việc có tầm nhìn dài hạn. Hỗ trợ cho dân chủ và nhân quyền không phải là một đề xuất được tất cả hoặc không có gì. Như tài quản lý của Biden đã cho thấy, các thỏa thuận giao dịch với những kẻ độc tài có thể bổ sung cho một chiến lược nhấn mạnh đến cốt lõi của sự hợp tác dân chủ. Hơn nữa, việc tôn vinh các giá trị của Mỹ không chỉ là vấn đề chỉ trích các chế độ đàn áp. Một chính sách đối ngoại nhằm nâng cao mức sống quốc tế thông qua thương mại, giải quyết các vấn đề toàn cầu như mất an ninh lương thực và giữ vững lập trường chống chiến tranh giữa các cường quốc sẽ phục vụ rất tốt cho phẩm giá con người. Một chiến lược nhấn mạnh những nỗ lực như vậy thực sự có thể hấp dẫn hơn đối với các quốc gia, bao gồm cả các nền dân chủ đang phát triển từ Brazil đến Indonesia, chống lại việc đóng khung dân chủ chống chuyên chế vì họ không muốn tham gia bất kỳ phần nào của cuộc chiến Manichean.

Dĩ nhiên, những nguyên tắc này có thể giống như một công thức để hợp lý hóa - một cách bào chữa cho hành vi thô bỉ nhất bằng cách tuyên bố rằng nó phục vụ cho một mục đích lớn hơn. Sau đó, một nguyên tắc quan trọng khác làm sống lại câu nói của Hamilton rằng phương tiện phải tương xứng với hành vi gây hại. Sự thỏa hiệp càng lớn thì lợi ích mà nó mang lại càng lớn - hoặc thiệt hại mà nó tránh được - càng phải càng lớn lao.

Theo tiêu chuẩn này, trường hợp hợp tác với Ấn Độ hoặc Ba Lan là rõ ràng. Những quốc gia này đang gặp khó khăn nhưng hầu hết đều có nền dân chủ đáng ngưỡng mộ, đóng vai trò quan trọng trong các cuộc cạnh tranh khốc liệt. Cho đến khi thế giới chỉ còn các nền dân chủ tự do, Washington khó có thể tránh khỏi việc tìm kiếm những người bạn có tồi tệ.

Tuy nhiên, Hoa Kỳ nên thận trọng hơn trong việc lôi kéo các quốc gia thường xuyên tham gia vào chính những hoạt động có tính phá hoại nhất đối với trật tự tự do: tra tấn hoặc giết hại người dân một cách có hệ thống, áp bức các nước láng giềng hoặc xuất khẩu đàn áp xuyên biên giới, kể một vài tên. Ví dụ, một Ả Rập Saudi định kỳ tham gia vào một số hoạt động này sẽ là một đối tác phiền phức. Một Ả Rập Saudi thực hiện những hành động như vậy một cách trắng trợn và liên tục có nguy cơ phá hủy nền tảng đạo đức và ngoại giao trong mối quan hệ của họ với Hoa Kỳ. Các quan chức Mỹ nên do dự hơn nữa trong việc xuyên tạc hoặc gây bất ổn chính trị của các nước khác, đặc biệt là các nền dân chủ khác vì lợi ích chiến lược. Nếu Washington quay trở lại hoạt động đảo chính ở Mỹ Latinh hoặc Đông Nam Á, thì những kết quả tồi tệ cần được ngăn chặn phải thực sự nghiêm trọng - chính yếu có lẽ tiềm tàng sự thay đổi dài hạn trong cán cân quyền lực khu vực quan trọng - để biện minh các chính sách rõ ràng căng thẳng như vậy với những lý do mà Hoa Kỳ tuyên bố bảo vệ.

Hỗn Loạn tại phi trường Kabul, Afghanistan, August 2021

Sgt. Victor Mancilla / U.S. Marine Corps / Reuters

Giảm thiểu tác hại của những nguyên nhân đó có nghĩa là phải tuân theo một nguyên tắc khác: cải thiện giới hạn là vấn đề quan trọng. Washington sẽ không thuyết phục các nhà lãnh đạo ở Thổ Nhĩ Kỳ, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất hoặc Việt Nam phạm phải tự sát chính trị bằng cách từ bỏ mô hình trong nước của họ. Nhưng đòn bẩy có tác dụng theo cả hai cách trong những mối quan hệ này. Các quốc gia đang gặp nguy hiểm cần một siêu cường bảo trợ cũng nhiều như siêu cường cần họ. Các quan chức Hoa Kỳ có thể sử dụng đòn bẩy đó để ngăn cản sự đàn áp ngoài lãnh thổ, tìm cách trả tự do cho các tù nhân chính trị, thực hiện các cuộc bầu cử tự do và công bằng hơn một chút, hoặc nói cách khác là đạt được những thay đổi khiêm tốn nhưng có ý nghĩa. Làm như vậy có thể là cái giá phải trả cho việc giữ nguyên vẹn các mối quan hệ này, bằng cách thuyết phục những người ủng hộ nhân quyền và dân chủ trong Quốc hội rằng Nhà Trắng vẫn chưa quên hoàn toàn những vấn đề như vậy.

Điều này liên quan đến một nguyên tắc bổ sung: Hoa Kỳ phải hết sức trung thực với chính mình. Các quan chức Mỹ cần phải thừa nhận rằng các đồng minh phản tự do sẽ là những đồng minh có chọn lọc hoặc không đáng tin cậy vì các mô hình trong nước của họ khiến họ xung đột với các chuẩn mực quan trọng của trật tự tự do – và vì họ có xu hướng tạo ra sự hiềm khích mà cuối cùng có thể gây ra sự bùng nổ. Tương tự như vậy, vấn đề với luật pháp ủy thác cắt đứt sự giúp đỡ đối với những kẻ âm mưu đảo chính là họ khuyến khích sự tự lừa dối. Trong những trường hợp Washington lo ngại chiến lược hậu quả trái ngược từ sự rạn nứt quan hệ, các quan chức Mỹ được thúc đẩy giả vờ rằng cuộc đảo chính chưa hề xảy ra. Cách tiếp cận tốt hơn, phù hợp với những cải cách đã được Quốc hội thông qua vào tháng 12 năm 2022, là một khuôn khổ cho phép tổng thống từ bỏ những hạn chế như vậy vì lý do an ninh quốc gia — nhưng buộc họ phải thừa nhận và biện minh cho lựa chọn đó. Công việc tạo ra sự đánh đổi về mặt đạo đức trong chính sách đối ngoại bắt đầu bằng việc thừa nhận những sự đánh đổi đó tồn tại.

Some of these principles are in tension with others, which means their application in specific cases must always be a matter of judgment. But the issue of reconciling opposites relates to a final principle: soaring idealism and brutal realism can coexist. During the 1970s, moral debates ruptured the Cold War consensus. During the 1980s, U.S. President Ronald Reagan adequately repaired—but never fully restored—that consensus by combining flexibility of tactics with clarity of purpose.

Reagan supported awful dictators, murderous militaries, and thuggish “freedom fighters” in the Third World, sometimes through ploys—such as the Iran-contra scandal—that were dodgy or simply illegal. Yet he also backed democratic movements from Chile to South Korea; he paired rhetorical condemnations of the Kremlin with ringing affirmations of Western ideals. The takeaway is that rough measures may be more tolerable if they are part of a larger package that emphasizes, in word and deed, the values that must anchor the United States’ approach to the world. Some will see this as heightening the hypocrisy. In reality, it is the best way to preserve the balance—political, moral, and strategic—that a democratic superpower requires.

Một số nguyên tắc này mâu thuẫn với những nguyên tắc khác, có nghĩa là việc áp dụng chúng trong những trường hợp cụ thể luôn phải mang tính phán xét. Nhưng vấn đề dung hòa các mặt đối lập liên quan đến một nguyên tắc cuối cùng: chủ nghĩa lý tưởng và chủ nghĩa hiện thực tàn bạo có thể cùng tồn tại. Trong những năm 1970, các cuộc tranh luận về đạo đức đã phá vỡ sự đồng thuận trong Chiến tranh Lạnh. Trong những năm 1980, Tổng thống Mỹ Ronald Reagan đã sửa chữa thỏa đáng – nhưng chưa bao giờ khôi phục hoàn toàn – sự đồng thuận đó bằng cách kết hợp linh hoạt của chiến thuật với sự rõ ràng của mục đích.

Reagan ủng hộ những kẻ độc tài đáng sợ, những quân đội giết người, và những “chiến binh tự do” côn đồ ở Thế giới thứ ba, đôi khi thông qua những mưu đồ—chẳng hạn như vụ bê bối Iran-contra—rất xảo quyệt hoặc đơn giản là bất hợp pháp. Nhưng ông cũng ủng hộ các phong trào dân chủ từ Chile tới Hàn Quốc; ông kết hợp những lời lên án khoa trương đối với Điện Kremlin với những lời khẳng định vang dội về các lý tưởng phương Tây. Bài học rút ra là các biện pháp thô bạo có thể dễ được khoan dung hơn nếu chúng là một phần của một gói lớn hơn nhấn mạnh, bằng lời nói và hành động, các giá trị phải là nền tảng cho cách tiếp cận của Hoa Kỳ với thế giới. Một số người sẽ coi điều này càng tăng cường thêm tính đạo đức giả. Trên thực tế, đó là cách tốt nhất để duy trì sự cân bằng – chính trị, đạo đức và chiến lược – mà một siêu cường dân chủ đòi hỏi.

HAL BRANDS is Henry A. Kissinger Distinguished Professor of Global Affairs at the Johns Hopkins School of Advanced International Studies and a Senior Fellow at the American Enterprise Institute.

 
 

Hồ Lạc Hồng dịch

___________________________________________
(1) The Age of Amorality_Can America Save the Liberal Order through Illiberal Means_Hal Brands_Foreign Affairs March-April/2024