| |

Illustration by Adam Maida
Kể từ khi Donald Trump lần đầu tiên trở thành tổng thống Mỹ vào năm 2017, các nhà bình luận đã tìm kiếm một thuật ngữ thích hợp để mô tả cách tiếp cận của ông đối với quan hệ đối ngoại của Mỹ. Viết trên trang báo này, nhà khoa học chính trị Barry Posen đã đề xuất vào năm 2018 rằng chiến lược lớn của Trump là “bá quyền phi tự do” (illiberal hegemony), và nhà phân tích Oren Cass đã lập luận vào mùa thu năm ngoái rằng bản chất xác định của nó là yêu cầu về “sự hỗ tương”. Trump đã được gọi là một nhà hiện thực, nhà dân tộc chủ nghĩa, nhà trọng thương chủ nghĩa lỗi thời, kẻ đế quốc chủ nghĩa và một người theo cô lập chủ nghĩa. Mỗi thuật ngữ này đều nắm bắt được một số khía cạnh trong cách tiếp cận của Trump, nhưng chiến lược lớn của nhiệm kỳ tổng thống thứ hai của ông có lẽ được mô tả tốt nhất là kẻ “bá quyền trấn lột” (The Predatory Hegemon). Mục tiêu trung tâm của nó là sử dụng vị thế đặc quyền của Washington để đòi hỏi sự nhượng bộ, cống nạp và thể hiện sự kính trọng từ cả đồng minh và kẻ thù, theo đuổi những lợi ích ngắn hạn trong một thế giới mà ông coi là hoàn toàn có tổng bằng không.
Hoa Kỳ với sở hữu nguồn lực đáng kể và lợi thế địa lý, bá quyền mang tính chất trấn lột có thể hiệu quả trong một thời gian. Tuy nhiên, về lâu dài, nó chắc chắn sẽ thất bại. Nó không phù hợp với một thế giới gồm nhiều cường quốc cạnh tranh nhau—đặc biệt là một thế giới mà Trung Quốc là đối thủ ngang tầm về kinh tế và quân sự—bởi vì thế giới đa cực tạo điều kiện cho các quốc gia khác giảm bớt sự phụ thuộc vào Hoa Kỳ. Nếu tiếp tục định hình chiến lược của Mỹ trong những năm tới, tính chất bá quyền trấn lột sẽ làm suy yếu cả Hoa Kỳ và các đồng minh, tạo ra sự bất mãn ngày càng tăng trên toàn cầu, tạo ra những cơ hội hấp dẫn cho các đối thủ chính của Washington, và khiến người Mỹ kém an toàn, thịnh vượng và ảnh hưởng hơn.
ĐỈNH CAO CỦA BÁ QUYỀN TRẤN LỘT
Trong 80 năm qua, cấu trúc quyền lực thế giới đã chuyển từ lưỡng cực sang đơn cực và hiện nay là mất cân bằng đa cực, và chiến lược tổng thể của Hoa Kỳ cũng thay đổi theo đó. Trong thế giới lưỡng cực của Chiến tranh Lạnh, Hoa Kỳ đóng vai trò là bá chủ nhân đạo đối với các đồng minh thân cận ở châu Âu và châu Á vì các nhà lãnh đạo Mỹ tin rằng sự thịnh vượng của các đồng minh là điều thiết yếu để kiềm chế Liên Xô. Họ sử dụng ưu thế kinh tế và quân sự của Mỹ một cách tự do và đôi khi chơi cứng rắn với các đối tác chủ chốt, như Tổng thống Dwight Eisenhower đã làm khi Anh, Pháp và Israel tấn công Ai Cập năm 1956 hoặc như Tổng thống Richard Nixon đã làm khi ông đưa Hoa Kỳ ra khỏi chế độ bản vị vàng năm 1971. Nhưng Washington cũng đã giúp các đồng minh phục hồi kinh tế sau Thế chiến II; tạo ra và phần lớn, tuân theo các quy tắc nhằm thúc đẩy sự thịnh vượng chung; hợp tác với những nước khác để quản lý các cuộc khủng hoảng tiền tệ và các gián đoạn kinh tế khác; và trao cho các quốc gia yếu hơn một chỗ ngồi và tiếng nói trong các quyết định tập thể. Các quan chức Hoa Kỳ đi đầu, nhưng họ cũng lắng nghe, và hiếm khi tìm cách làm suy yếu hoặc lợi dụng các đối tác của mình.
Trong thời kỳ đơn cực, Hoa Kỳ đã sa vào thói kiêu căng và trở nên một bá chủ khá bất cẩn và ngang ngược. Không phải đối mặt với đối thủ mạnh nào và tin chắc rằng hầu hết các quốc gia đều sẵn sàng chấp nhận sự lãnh đạo của Mỹ và đón nhận các giá trị tự do Mỹ, các quan chức Hoa Kỳ đã ít chú ý đến những lo ngại của các quốc gia khác; dấn thân vào những cuộc thập tự chinh tốn kém và sai lầm ở Afghanistan, Iraq và một số quốc gia khác; áp dụng các chính sách đối đầu đẩy Trung Quốc và Nga xích lại gần nhau; và thúc đẩy việc mở cửa thị trường toàn cầu theo phương cách làm gia tốc sự trỗi dậy của Trung Quốc, gia tăng bất ổn tài chính toàn cầu, và cuối cùng gây hiệu ứng dữ dội trong nước giúp đưa Trump vào Nhà Trắng. Chắc chắn, Washington đã tìm cách cô lập, trừng phạt và làm suy yếu một số chế độ thù địch trong giai đoạn này, và đôi khi ít chú ý đến nỗi quan ngại về an ninh các quốc gia khác. Nhưng cả các quan chức Dân chủ và Cộng hòa đều tin rằng việc sử dụng sức mạnh của Mỹ để tạo ra một trật tự tự do toàn cầu sẽ tốt cho Hoa Kỳ và cho thế giới, và sự phản đối nghiêm trọng sẽ chỉ giới hạn ở một số ít các quốc gia nhỏ bất hảo. Họ không ngần ngại sử dụng quyền lực trong tay để ép buộc, lôi kéo, hoặc thậm chí lật đổ các chính phủ khác, nhưng sự ác ý của họ hướng vào những kẻ thù đã được thừa nhận chứ không phải các đối tác của Hoa Kỳ.
Tuy nhiên, dưới thời Trump, Hoa Kỳ đã trở thành một bá chủ hung hãn. Chiến lược này không phải là một phản ứng mạch lạc, được suy nghĩ kỹ lưỡng trước sự trở lại thế giới đa cực; thực tế lại là phương thức hành động sai lầm trong một thế giới có nhiều cường quốc. Thay vào đó, nó phản ánh trực tiếp cách tiếp cận giao dịch của Trump đối với tất cả các mối quan hệ và niềm tin của ông rằng Hoa Kỳ có đòn bẩy to lớn và lâu dài đối với hầu hết mọi quốc gia trên thế giới. Hoa Kỳ giống như “một cửa hàng bách hóa lớn, đẹp đẽ”, Trump nói vào tháng 4 năm 2025, và “ai cũng muốn một phần của cửa hàng đó”. Hoặc như ông nói trong một tuyên bố được Thư ký báo chí Nhà Trắng Karoline Leavitt chia sẻ, người tiêu dùng Mỹ là “thứ mà mọi quốc gia đều muốn có”, và nói thêm, “Nói cách khác, họ cần tiền của chúng ta”.
Trong nhiệm kỳ đầu tiên của Trump, các cố vấn giàu kinh nghiệm và hiểu biết hơn như Bộ trưởng Quốc phòng James Mattis, Bộ trưởng Tài chính Steven Mnuchin, Chánh văn phòng Nhà Trắng John Kelly và Cố vấn An ninh Quốc gia H. R. McMaster đã kiềm chế được những xung lực thao túng của Trump. Nhưng trong nhiệm kỳ thứ hai, mong muốn khai thác điểm yếu của các quốc gia khác của ông đã được tự do phát triển, được tiếp sức bởi một nhóm các quan chức được lựa chọn vì lòng trung thành cá nhân và bởi sự tự tin ngày càng tăng, dù có phần sai lầm, của Trump về khả năng nắm bắt các vấn đề thế giới của mình.
KHỐNG CHẾ VÀ PHỤC TÙNG
Một bá chủ trấn lột là một cường quốc thống trị thực hiện cơ cấu các giao dịch của mình với những nước khác thuần túy theo kiểu tổng bằng không, sao cho lợi ích luôn được phân chia có lợi cho mình. Mục tiêu chính của một bá chủ trấn lột không phải là xây dựng các mối quan hệ ổn định và cùng có lợi, giúp tất cả các bên đều được lợi, mà là đảm bảo rằng mình thu được nhiều hơn từ mọi tương tác so với những người khác. Một thỏa thuận giúp bá chủ được lợi hơn và các đối tác bị thiệt hơn thì được ưa chuộng hơn một thỏa thuận trong đó cả hai bên đều có lợi hoặc đối tác được lợi nhiều hơn, ngay cả khi trường hợp sau mang lại lợi ích tuyệt đối lớn hơn cho cả hai bên. Một bá chủ trấn lột luôn muốn có phần lớn nhất.
Tất nhiên, tất cả các cường quốc đều tham gia vào các hành vi trấn lột và họ luôn cạnh tranh để giành lợi thế tương đối. Khi giao dịch với các đối thủ, tất cả các quốc gia đều cố gắng giành được phần tốt hơn trong bất kỳ thỏa thuận nào. Tuy nhiên, điều khác biệt của bá chủ trấn lột từ hành vi điển hình của các cường quốc là sự sẵn sàng của một quốc gia trong việc đòi hỏi những nhượng bộ và lợi ích bất đối xứng từ cả đồng minh và đối thủ của mình. Một bá chủ ôn hòa chỉ áp đặt những gánh nặng bất công lên các đồng minh khi cần thiết, bởi vì nó tin rằng an ninh và sự giàu có của nó được tăng cường khi các đối tác thịnh vượng. Nó nhận ra giá trị của các quy tắc và thể chế tạo điều kiện cho sự hợp tác cùng có lợi, được các bên khác coi là hợp pháp và đủ bền vững để các quốc gia có thể an tâm cho rằng những quy tắc đó sẽ không thay đổi quá thường xuyên hoặc không báo trước. Một bá chủ tốt bụng hoan nghênh các mối quan hệ đối tác cùng có lợi với các quốc gia có lợi ích tương đồng, chẳng hạn như kiềm chế một kẻ thù chung, và thậm chí có thể cho phép các bên khác thu được lợi ích không cân xứng nếu làm như vậy sẽ giúp tất cả các bên tham gia đều tốt hơn. Nói cách khác, một bá chủ ôn hòa không chỉ nỗ lực thúc đẩy vị thế quyền lực của chính mình mà còn cung cấp những gì nhà kinh tế học Arnold Wolfers gọi là "mục tiêu môi trường": nó tìm cách định hình môi trường quốc tế theo những cách làm cho việc thực thi quyền lực trần trụi trở nên ít cần thiết hơn.
Ngược lại, một bá chủ hung hãn có khả năng trấn lột các đối tác của mình cũng như lợi dụng đối thủ. Nó có thể sử dụng các lệnh cấm vận, trừng phạt tài chính, chính sách thương mại "lợi mình hại người", thao túng tiền tệ và những công cụ gây áp lực kinh tế để buộc các nước khác chấp nhận các điều khoản thương mại có lợi cho nền kinh tế của bá chủ hoặc điều chỉnh hành vi của họ về các vấn đề phi kinh tế mà họ quan tâm. Nó sẽ liên kết việc cung cấp bảo vệ quân sự với các yêu cầu kinh tế của mình và kỳ vọng các đối tác liên minh sẽ ủng hộ các sáng kiến chính sách đối ngoại rộng lớn hơn của nó. Các quốc gia yếu hơn sẽ chấp nhận những áp lực cưỡng chế này nếu họ phụ thuộc nhiều vào việc tiếp cận thị trường lớn hơn của bá chủ hoặc nếu họ phải đối mặt với các mối đe dọa lớn hơn nữa từ các quốc gia khác và do đó phải phụ thuộc vào sự bảo vệ của bá chủ, ngay cả khi điều đó đi kèm với những điều kiện ràng buộc.

Biểu tình phản đối thuế quan của Mỹ trước đại sứ quán Mỹ tại Brasília, tháng 8 năm 2025
Mateus Bonomi / Reuters
Bởi vì quyền lực cưỡng chế của một bá chủ trấn lột phụ thuộc vào việc giữ các quốc gia khác trong tình trạng phục tùng mãi mãi, các nhà lãnh đạo của nó sẽ kỳ vọng những quốc gia trong quỹ đạo của nó thừa nhận vị thế lệ thuộc của họ thông qua các hành động phục tùng lặp đi lặp lại, thường mang tính biểu tượng. Họ có thể được yêu cầu phải cống nạp một cách trang trọng hoặc được yêu cầu công khai thừa nhận và ca ngợi những đức tính của bá chủ. Những biểu hiện tôn trọng mang tính nghi lễ như vậy làm suy yếu sự phản kháng bằng cách báo hiệu rằng bá chủ quá mạnh để chống lại và bằng cách miêu tả nó khôn ngoan hơn các chư hầu của mình và do đó có quyền ra lệnh cho họ.
Bá chủ mang tính trấn lột không phải là một hiện tượng mới. Nó là nền tảng cho mối quan hệ của Athens với các bang thành yếu hơn trong đế chế của mình, một sự thống trị mà chính Pericles, nhà lãnh đạo lỗi lạc nhất của Athens thời bấy giờ, đã mô tả là một "chế độ chuyên chế". Thời cận đại, lấy Trung Hoa làm trung tâm ở Đông Á dựa trên các mối quan hệ phụ thuộc tương tự, bao gồm việc cống nạp và sự phục tùng mang tính nghi lễ, mặc dù các học giả không đồng ý về việc liệu nó có nhất quán mang tính bóc lột hay không. Mong muốn khai thác của cải từ các thuộc địa là một yếu tố trung tâm trong các đế chế thuộc địa của Bỉ, Anh, Pháp, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, và những động cơ tương tự đã ảnh hưởng đến các mối quan hệ kinh tế một chiều của Đức Quốc xã với các đối tác thương mại ở Trung và Đông Âu và mối liên hệ của Liên Xô với các đồng minh Hiệp ước Warsaw. Mặc dù những trường hợp này khác nhau ở những điểm quan trọng, nhưng trong mỗi trường hợp, một cường quốc thống trị đều tìm cách bóc lột các đối tác yếu hơn để đảm bảo lợi ích bất cân xứng cho chính mình, ngay cả khi những nỗ lực đó không phải lúc nào cũng thành công và nếu một số khách hàng tốn nhiều chi phí hơn để có được và bảo vệ so với của cải hoặc cống phẩm mà họ mang lại.
Tóm lại, một cường quốc bá quyền mang tính trấn lột coi tất cả các mối quan hệ song phương là trò chơi tổng bằng không và tìm cách khai thác lợi ích tối đa từ mỗi mối quan hệ. "Cái gì của tôi là của tôi, còn cái gì của bạn thì có thể thương lượng" là phương châm chỉ đạo của nó. Các thỏa thuận hiện có không thực chất giá trị hay tính hợp pháp và sẽ bị loại bỏ hoặc phớt lờ nếu chúng không mang lại đủ lợi ích bất cân xứng. Tất nhiên, một số nỗ lực mang tính trấn lột có thể thất bại, và có những giới hạn đối với những gì ngay cả các quốc gia hùng mạnh nhất có thể bòn rút từ các quốc gia khác. Tuy nhiên, đối với một cường quốc bá quyền trấn lột, mục tiêu tối thượng là đẩy những giới hạn đó đến mức tối đa có thể.
ÁP ĐẶT
Bản chất trấn lột trong chính sách đối ngoại của Trump thể hiện rõ nhất ở nỗi ám ảnh của ông về thâm hụt thương mại và những nỗ lực sử dụng thuế quan để phân phối lại lợi ích kinh tế theo hướng có lợi cho Washington. Trump đã nhiều lần nói rằng thâm hụt thương mại là một “sự lừa đảo” và một hình thức cướp bóc; theo quan điểm của ông, các quốc gia có thặng dư thương mại đang “thắng lợi” vì Hoa Kỳ trả cho họ nhiều hơn số tiền họ trả cho Washington. Theo đó, Trump hoặc đã áp đặt thuế quan lên các quốc gia đó, bề ngoài là để bảo vệ các nhà sản xuất Hoa Kỳ bằng cách làm cho hàng hóa nước ngoài trở nên đắt hơn (mặc dù chi phí của thuế quan chủ yếu do người Mỹ mua hàng nhập khẩu chi trả), hoặc đe dọa áp đặt thuế quan như vậy để buộc các chính phủ và công ty nước ngoài đầu tư vào Hoa Kỳ để đổi lấy sự giảm nhẹ thuế.
Trump cũng đã sử dụng thuế quan để buộc những người khác phải thay đổi các chính sách phi kinh tế mà ông phản đối. Tháng 7 năm ngoái, ông đã áp thuế 40% đối với Brazil trong một nỗ lực thất bại nhằm gây áp lực buộc chính phủ nước này ân xá cho cựu Tổng thống Jair Bolsonaro, một đồng minh của Trump. (Vào tháng 11, ông đã dỡ bỏ một số loại thuế quan đó, vốn đã góp phần làm tăng giá thực phẩm cho người tiêu dùng Mỹ.) Ông biện minh cho việc tăng thuế quan đối với Canada và Mexico bằng cách tuyên bố rằng họ không làm đủ để ngăn chặn nạn buôn lậu fentanyl. Và vào tháng 10, ông đe dọa Colombia bằng mức thuế quan cao hơn sau khi tổng thống nước này chỉ trích các cuộc tấn công gây tranh cãi của Hải quân Mỹ vào hơn hai chục tàu thuyền ở vùng biển Caribbean, mà theo chính quyền Trump, đã bị nhắm mục tiêu vì buôn lậu ma túy bất hợp pháp.
Trump có khả năng gây sức ép lên cả các đồng minh truyền thống của Mỹ lẫn các đối thủ đã được thừa nhận, và tính chất lúc có lúc không của các lời đe dọa của ông nhấn mạnh mong muốn của ông là đạt được càng nhiều nhượng bộ càng tốt. Ông Trump tin rằng sự khó đoán là một công cụ mặc cả mạnh mẽ, và bộ lời đe dọa và yêu cầu liên tục thay đổi của ông nhằm mục đích buộc những người khác phải tiếp tục tìm kiếm những cách thức mới để đáp ứng ông. Đe dọa áp đặt thuế quan tốn rất ít chi phí cho Washington nếu mục tiêu nhanh chóng nhượng bộ, nhưng nếu mục tiêu kiên quyết hoặc nếu thị trường hoảng sợ, ông Trump có thể trì hoãn hành động. Cách tiếp cận này cũng giúp tập trung sự chú ý vào chính Trump, giúp chính quyền miêu tả bất kỳ thỏa thuận nào sau đó như một chiến thắng bất kể các điều khoản chính xác của nó, và tạo ra những cơ hội rõ ràng cho tham nhũng có lợi cho Trump và nhóm thân cận của ông.
Để tối đa hóa đòn bẩy của Mỹ, Trump đã nhiều lần liên kết các yêu cầu kinh tế của mình với sự phụ thuộc của các đồng minh vào sự hỗ trợ quân sự của Mỹ, chủ yếu bằng cách gieo rắc nghi ngờ về việc liệu ông có tôn trọng các cam kết liên minh hay không. Ông khăng khăng rằng các đồng minh nên trả tiền cho sự bảo vệ của Mỹ và gợi ý rằng Hoa Kỳ có thể rời NATO, từ chối giúp bảo vệ Đài Loan, hoặc bỏ rơi Ukraine hoàn toàn. Nhưng mục tiêu của ông không phải là làm cho các mối quan hệ đối tác của Mỹ hiệu quả hơn bằng cách khiến các đồng minh làm nhiều hơn để tự vệ - và trên thực tế, việc tăng mạnh mức thuế quan sẽ gây thiệt hại cho nền kinh tế của các đối tác và khiến họ khó đạt được các mục tiêu chi tiêu quốc phòng cao hơn. Thay vào đó, Trump đang sử dụng mối đe dọa rút lui của Mỹ để ép buộc các nhượng bộ kinh tế. Chiến lược này đã mang lại một số lợi ích ngắn hạn, ít nhất là trên lý thuyết. Vào tháng 7, các nhà lãnh đạo EU đã chấp nhận một thỏa thuận thương mại đơn phương với hy vọng thuyết phục Trump tiếp tục ủng hộ Ukraine, và Nhật Bản cùng Hàn Quốc đã được giảm thuế quan trong các thỏa thuận được ký kết lần lượt vào tháng 7 và tháng 11, bằng cách cam kết đầu tư vào nền kinh tế Mỹ. Úc, Cộng hòa Dân chủ Congo, Pakistan và Ukraine đều tìm cách củng cố sự ủng hộ của Mỹ bằng cách đề nghị Hoa Kỳ tiếp cận hoặc sở hữu một phần các khoáng sản quan trọng nằm trên lãnh thổ của họ.
Một cường quốc bá quyền hung hãn thích một thế giới mà, theo câu nói nổi tiếng của Thucydides, “kẻ mạnh làm những gì họ có thể và kẻ yếu phải chịu đựng những gì họ phải chịu”. Đó là lý do tại sao một quốc gia như vậy sẽ cảnh giác với các chuẩn mực, quy tắc hoặc thể chế có thể hạn chế khả năng lợi dụng người khác của họ. Không có gì đáng ngạc nhiên khi Trump ít coi trọng Liên Hợp Quốc; sẵn sàng xé bỏ các thỏa thuận do những người tiền nhiệm của ông đàm phán, chẳng hạn như thỏa thuận khí hậu Paris và thỏa thuận hạt nhân Iran; và thậm chí còn bội ước các thỏa thuận mà chính ông đã đàm phán. Ông thích tiến hành các cuộc đàm phán thương mại song phương hơn là giao dịch với các thể chế như EU hoặc Tổ chức Thương mại Thế giới dựa trên các quy tắc vì việc giao dịch trực tiếp với từng quốc gia sẽ tăng cường hơn nữa đòn bẩy của Mỹ. Trump cũng đã trừng phạt các quan chức cấp cao của Tòa án Hình sự Quốc tế và phát động một cuộc tấn công dữ dội vào một kế hoạch định giá khí thải do Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) phát triển. Đề xuất của IMO nhằm mục đích làm chậm biến đổi khí hậu bằng cách khuyến khích các công ty vận tải biển sử dụng nhiên liệu sạch hơn, nhưng Trump đã tố cáo nó là một “trò lừa đảo” và cố tình phá hoại nó. Sau khi chính quyền của ông đe dọa áp thuế, trừng phạt và các biện pháp khác đối với những người ủng hộ biện pháp này, cuộc bỏ phiếu về việc phê duyệt chính thức đã bị hoãn lại một năm. Một đại biểu của IMO cho biết vào tháng 10 rằng phái đoàn Hoa Kỳ “hành xử như những tên gangster”. “Tôi chưa từng nghe thấy điều gì tương tự tại một cuộc họp của IMO.”
Không thể bàn luận về bá quyền mang tính trấn lột của Washington mà không đề cập đến sự quan tâm của Trump đối với lãnh thổ thuộc về các quốc gia khác và sự sẵn sàng can thiệp vào chính trị nội bộ của các nước khác, vi phạm luật pháp quốc tế. Mong muốn sáp nhập Greenland nhiều lần của ông, và những lời đe dọa áp đặt thuế trừng phạt đối với các quốc gia châu Âu phản đối hành động này, là ví dụ rõ ràng nhất về khuynh hướng này. Như tình báo quân sự Đan Mạch đã cảnh báo trong báo cáo đánh giá mối đe dọa hàng năm được công bố vào tháng 12, “Hoa Kỳ sử dụng sức mạnh kinh tế, bao gồm cả các mối đe dọa về thuế quan cao, để thực thi ý chí của mình, và không còn loại trừ việc sử dụng lực lượng quân sự, ngay cả đối với các đồng minh.” Những ngắm nhìn của Trump về việc biến Canada thành quốc gia thứ 51 hoặc tái chiếm khu vực kênh đào Panama cho thấy mức độ tham lam địa chính trị và cơ hội chủ nghĩa như nhau. Quyết định bắt cóc Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro của ông ta—một hành động tạo ra tiền lệ nguy hiểm cho các cường quốc khác noi theo—cho thấy sự coi thường các chuẩn mực hiện có và sẵn sàng khai thác điểm yếu của người khác của một kẻ trấn lột. Bản năng trấn lột thậm chí còn mở rộng đến các vấn đề văn hóa, với Chiến lược An ninh Quốc gia của chính quyền tuyên bố rằng châu Âu đang đối mặt với “sự xóa sổ nền văn minh” và chính sách của Mỹ đối với lục địa này nên bao gồm “nuôi dưỡng sự kháng cự đối với quỹ đạo hiện tại của châu Âu trong các quốc gia châu Âu”. Nói cách khác, các quốc gia châu Âu sẽ bị gây áp lực để chấp nhận cam kết của chính quyền Trump về chủ nghĩa dân tộc dựa trên huyết thống và lãnh thổ cũng như thái độ thù địch của họ đối với các nền văn hóa hoặc tôn giáo không phải da trắng và không phải Cơ đốc giáo. Đối với một bá chủ trấn lột, không có vấn đề nào là cấm kỵ.
Trump cũng đang sử dụng vị thế quốc tế đặc quyền của Hoa Kỳ để đạt được lợi ích cho bản thân và gia đình. Qatar đã tặng ông một chiếc máy bay, việc tân trang lại chiếc máy bay này sẽ tiêu tốn của người đóng thuế Mỹ vài trăm triệu đô la và có thể sẽ được đặt tại thư viện tổng thống của ông sau khi ông rời nhiệm sở. Tổ chức Trump đã ký các thỏa thuận phát triển khách sạn trị giá hàng triệu đô la với các chính phủ nhằm lấy lòng chính quyền, và các nhân vật có ảnh hưởng ở Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và những nơi khác đã mua hàng tỷ đô la token do công ty tiền điện tử World Liberty Financial của Trump phát hành – cùng thời điểm UAE được tiếp cận đặc biệt với các chip cao cấp thường phải chịu sự kiểm soát xuất khẩu nghiêm ngặt của Mỹ. Chưa có tổng thống nào trong lịch sử nước Mỹ lại có thể kiếm tiền từ chức vụ tổng thống đến mức độ tương tự hoặc với sự coi thường rõ ràng như vậy đối với các xung đột lợi ích tiềm tàng.

A view of Nuuk, Greenland, January 2026 Marko Djurica / Reuters
Giống như một ông trùm Mafia hay một vị vua đế quốc, Trump kỳ vọng các nhà lãnh đạo nước ngoài muốn lấy lòng ông phải thể hiện sự kính trọng hạ mình và những hình thức tâng bốc lố bịch, giống như các thành viên nội các của ông. Làm sao có thể giải thích được hành vi đáng xấu hổ của Tổng thư ký NATO Mark Rutte, người đã nói với Trump rằng ông "xứng đáng nhận được mọi lời khen ngợi" vì đã thuyết phục các thành viên NATO tăng chi tiêu quốc phòng, mặc dù việc tăng chi tiêu này đã được tiến hành từ trước khi Trump tái đắc cử, và cuộc xâm lược Ukraine của Nga cũng quan trọng không kém trong việc thúc đẩy sự thay đổi này? Rutte cũng tuyên bố vào tháng 3 năm 2025 rằng Trump đã "phá vỡ thế bế tắc" với Nga về vấn đề Ukraine (điều rõ ràng là không đúng); ca ngợi các cuộc không kích của Mỹ vào Iran hồi tháng 6 là điều "không ai dám làm"; và ví những nỗ lực hòa bình của Trump ở Trung Đông với hành động của một "người cha" khôn ngoan và nhân từ.
Rutte không phải là người duy nhất: các nhà lãnh đạo thế giới khác—bao gồm cả ở Israel, Guinea-Bissau, Mauritania và Senegal—đã công khai ủng hộ việc trao giải Nobel Hòa bình cho D. Trump, với tổng thống Senegal còn dành những lời khen ngợi không cần thiết cho khả năng chơi golf của Trump. Không chịu thua kém, Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae-myung đã tặng Trump một chiếc vương miện vàng khổng lồ trong chuyến thăm Seoul gần đây và kết thúc bữa tối chính thức bằng cách phục vụ ông một món ăn có tên gọi “Món tráng miệng của người kiến tạo hòa bình”. Ngay cả Gianni Infantino, chủ tịch của Liên đoàn bóng đá thế giới, cũng tham gia vào cuộc chơi, tạo ra một giải thưởng “Giải thưởng Hòa bình FIFA” vô nghĩa và tuyên bố Trump là người nhận giải đầu tiên tại một buổi lễ phô trương vào tháng 12 năm 2025.
Việc đòi hỏi những biểu hiện trung thành không chỉ là sản phẩm của nhu cầu được chú ý và khen ngợi dường như vô hạn của Trump; nó còn nhằm củng cố sự tuân thủ và ngăn chặn ngay cả những hành động phản kháng nhỏ nhất. Những nhà lãnh đạo thách thức Trump sẽ bị khiển trách và đe dọa bằng những biện pháp cứng rắn hơn—như Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky đã từng trải qua nhiều lần—trong khi những nhà lãnh đạo trắng trợn tâng bốc Trump lại được đối xử nhẹ nhàng hơn, ít nhất là vào thời điểm hiện tại. Ví dụ, vào tháng 10 năm 2025, Bộ Tài chính Hoa Kỳ đã gia hạn khoản vay hoán đổi tiền tệ trị giá 20 tỷ đô la để củng cố đồng peso của Argentina, mặc dù Argentina không phải là đối tác thương mại quan trọng của Hoa Kỳ và đang thay thế xuất khẩu đậu nành của Hoa Kỳ sang Trung Quốc (vốn trị giá hàng tỷ đô la trước khi Trump phát động cuộc chiến thương mại). Nhưng vì Tổng thống Argentina Javier Milei là một nhà lãnh đạo có cùng chí hướng và công khai ca ngợi Trump là hình mẫu của mình, ông đã nhận được sự hỗ trợ thay vì một danh sách các yêu cầu. Ngay cả những kẻ buôn bán ma túy bị kết án, bao gồm cả cựu Tổng thống Honduras Juan Orlando Hernández, cũng có thể được ân xá của tổng thống nếu họ tỏ vẻ phù hợp với chương trình nghị sự của Trump.
Những nỗ lực lấy lòng Trump bằng cách tâng bốc giống như một cuộc chạy đua vũ trang, khi các nhà lãnh đạo nước ngoài cạnh tranh xem ai có thể đưa ra nhiều lời khen ngợi nhất trong thời gian ngắn nhất. Ông Trump cũng nhanh chóng phản bác lại những nhà lãnh đạo đi trệch kịch bản. Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã học được bài học này khi, vài tuần sau khi ông bác bỏ tuyên bố của ông Trump về việc đã ngăn chặn các cuộc đụng độ biên giới giữa Ấn Độ và Pakistan, Ấn Độ bị áp thuế 25% (sau đó được nâng lên 50% để trừng phạt Ấn Độ vì mua dầu của Nga). Sau khi chính quyền tỉnh Ontario phát sóng một quảng cáo trên truyền hình chỉ trích chính sách thuế quan của ông Trump, ông Trump ngay lập tức tăng thuế suất đối với Canada thêm 10%. Thủ tướng Canada Mark Carney nhanh chóng xin lỗi, và quảng cáo ngay lập tức biến mất khỏi sóng truyền hình. Để tránh những sự sỉ nhục như vậy, nhiều nhà lãnh đạo đã chọn cách quỳ lụy trước – ít nhất là tức thời.
ĐỦ RỒI
Trump và những người ủng hộ ông coi những hành động nhượng bộ này là bằng chứng cho thấy việc chơi cứng rắn mang lại cho Hoa Kỳ những lợi ích có thể thấy được. Như Anna Kelly, người phát ngôn của Nhà Trắng, đã nói vào tháng 8: “Kết quả tự nói lên tất cả: các thỏa thuận thương mại của tổng thống đang tạo ra sân chơi bình đẳng cho nông dân và công nhân của chúng ta, hàng nghìn tỷ đô la đầu tư đang đổ vào đất nước chúng ta, và các cuộc chiến kéo dài hàng thập kỷ đang kết thúc… Các nhà lãnh đạo nước ngoài rất mong muốn có một mối quan hệ tích cực với Tổng thống Trump và tham gia vào nền kinh tế bùng nổ dưới thời Trump.” Chính quyền dường như tin rằng họ có thể trấn lột các quốc gia khác mãi mãi, và làm như vậy sẽ khiến Hoa Kỳ mạnh mẽ hơn nữa và tăng thêm đòn bẩy của mình. Họ đã nhầm: bá quyền mang tính trấn lột chứa đựng mầm mống tự hủy diệt của chính nó.
Vấn đề đầu tiên là những lợi ích được chính quyền ca ngợi đã bị phóng đại. Hầu hết các cuộc chiến mà Trump tuyên bố đã kết thúc vẫn đang tiếp diễn. Đầu tư nước ngoài mới vào Hoa Kỳ còn thiếu rất nhiều so với hàng nghìn tỷ đô la và khó có thể thành hiện thực hoàn toàn. Ngoài các trung tâm dữ liệu được thúc đẩy bởi cơn sốt trí tuệ nhân tạo, nền kinh tế Mỹ không bùng nổ, một phần do những trở ngại từ các chính sách kinh tế của Trump. Trump, gia đình ông và các đồng minh chính trị của ông có thể đang hưởng lợi từ các chính sách mang tính bóc lột của ông, nhưng phần lớn người dân trong nước thì không.
Một vấn đề khác là nền kinh tế Trung Quốc hiện đang cạnh tranh với Hoa Kỳ trên nhiều phương diện. GDP của Trung Quốc nhỏ hơn về mặt danh nghĩa nhưng lớn hơn về sức mua tương đương, tốc độ tăng trưởng cao hơn và hiện nay nước này nhập khẩu gần bằng Hoa Kỳ. Cổ phần xuất khẩu hàng hóa toàn cầu của Trung Quốc đã tăng từ dưới 1% năm 1950 lên khoảng 15% hiện nay, trong khi cổ phần của Hoa Kỳ đã giảm từ 16% năm 1950 xuống chỉ còn 8%. Trung Quốc nắm giữ thị trường các nguyên tố đất hiếm tinh chế mà nhiều nước khác, bao gồm cả Hoa Kỳ, phụ thuộc vào; nước này đang nhanh chóng trở thành một cường quốc hàng đầu trong nhiều lĩnh vực khoa học; và nhiều tác nhân khác, bao gồm cả nông dân Hoa Kỳ, muốn tiếp cận thị trường của Trung Quốc. Như những quyết định gần đây của Trump về việc đình chỉ cuộc chiến thương mại với Trung Quốc và gác lại kế hoạch trừng phạt Bộ An ninh Quốc gia Trung Quốc vì chiến dịch gián điệp mạng nhắm vào các quan chức Mỹ đã chứng minh, ông ta không thể bắt nạt các cường quốc khác theo cách ông ta đã bắt nạt các quốc gia yếu hơn.

Trump bên ngoài White House, Washington, D.C., January 2026
Jonathan Ernst / Reuters
Hơn nữa, mặc dù các quốc gia khác vẫn muốn tiếp cận nền kinh tế Mỹ và người tiêu dùng giàu có của nước này, nhưng Mỹ không còn là lựa chọn duy nhất nữa. Ngay sau khi Trump nâng thuế suất đối với hàng hóa Ấn Độ lên mức khắc nghiệt 50%, vào tháng 8 năm 2025, Modi đã bay đến Bắc Kinh để tham dự hội nghị thượng đỉnh với nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Nga Vladimir Putin. Vào tháng 12, Putin đã đến thăm Modi tại New Delhi, nơi Thủ tướng Ấn Độ mô tả tình hữu nghị của đất nước mình với Nga là "như Sao Bắc Đẩu" và hai nhà lãnh đạo đã đặt mục tiêu kim ngạch thương mại song phương đạt 100 tỷ đô la vào năm 2030. Ấn Độ không chính thức liên minh với Moscow, nhưng Modi đang nhắc nhở Nhà Trắng rằng New Delhi có nhiều lựa chọn. Vì việc sắp xếp lại chuỗi cung ứng và các thỏa thuận thương mại tốn kém và mất thời gian, và thói quen hợp tác và phụ thuộc không biến mất chỉ sau một đêm, một số quốc gia đã chọn cách xoa dịu Trump trong ngắn hạn. Nhật Bản và Hàn Quốc đã thuyết phục Trump giảm thuế quan bằng cách đồng ý đầu tư hàng tỷ đô la vào nền kinh tế Mỹ, nhưng các khoản thanh toán cam kết sẽ được trải dài trong nhiều năm và có thể không bao giờ được thực hiện đầy đủ. Trong khi đó, các quan chức Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đã tổ chức các cuộc đàm phán thương mại đầu tiên sau 5 năm vào tháng 3 năm 2025, và ba nước đang xem xét một thỏa thuận hoán đổi tiền tệ ba bên nhằm "tăng cường mạng lưới an toàn tài chính của khu vực và làm sâu sắc thêm hợp tác kinh tế trong bối cảnh cuộc chiến thương mại của Tổng thống Mỹ Donald Trump", theo tờ South China Morning Post. Trong năm qua, Việt Nam đã mở rộng quan hệ quân sự với Nga, đảo ngược những nỗ lực trước đây nhằm xích lại gần hơn với Hoa Kỳ. "Sự khó đoán trong các chính sách của Trump đã khiến Việt Nam rất hoài nghi về việc giao dịch với Hoa Kỳ", theo một nhà phân tích được trích dẫn trên tờ The New York Times. "Không chỉ là thương mại mà còn là khó khăn trong việc hiểu được suy nghĩ và hành động của ông ấy." Tính khó đoán mà Trump thường ca ngợi có một nhược điểm rõ ràng: nó khuyến khích những người khác tìm kiếm các đối tác đáng tin cậy hơn.
Các quốc gia khác cũng đang nỗ lực giảm sự phụ thuộc vào Hoa Kỳ. Ông Carney đã nhiều lần cảnh báo rằng kỷ nguyên hợp tác ngày càng chặt chẽ với Hoa Kỳ đã kết thúc, đặt mục tiêu tăng gấp đôi xuất khẩu của Canada sang các nước không phải Hoa Kỳ trong vòng một thập kỷ, ký kết thỏa thuận thương mại song phương đầu tiên của nước này với Indonesia, đang đàm phán một hiệp định thương mại tự do với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), và đã có chuyến thăm hàn gắn quan hệ tới Bắc Kinh vào tháng Giêng. Liên minh châu Âu đã ký các thỏa thuận thương mại mới với Indonesia, Mexico và khối mậu dịch Nam Mỹ Mercosur, và tính đến cuối tháng Giêng, họ sắp hoàn tất một hiệp định thương mại mới với Ấn Độ. Nếu Washington tiếp tục cố gắng tận dụng sự phụ thuộc của các quốc gia khác, những nỗ lực này sẽ chỉ càng được đẩy nhanh hơn.
MUA NGAY, KHÔNG BAO GIỜ TRẢ?
Các đồng minh của Mỹ đã từng chịu đựng một mức độ bắt nạt nhất định trong quá khứ vì họ phụ thuộc rất nhiều vào sự bảo vệ của Mỹ. Nhưng sự khoan dung đó có giới hạn. Mức độ bắt nạt trong nhiệm kỳ đầu tiên của Trump là có giới hạn, và các đồng minh của Mỹ có lý do để hy vọng rằng thời gian ông tại vị sẽ là một sự kiện riêng lẻ và sẽ không lặp lại. Hy vọng đó giờ đã tan vỡ, đặc biệt ở châu Âu. Ví dụ, Chiến lược An ninh Quốc gia của chính quyền công khai thù địch với nhiều chính phủ và thể chế châu Âu. Cùng với những lời đe dọa mới của Trump về việc chiếm Greenland, điều này đã làm dấy lên thêm nghi ngờ về khả năng tồn tại lâu dài của NATO và cho thấy những nỗ lực của các nhà lãnh đạo châu Âu nhằm lấy lòng Trump bằng cách nhượng bộ ông ta đã thất bại.
Hơn nữa, những lời đe dọa rút bỏ sự bảo vệ quân sự của Mỹ sẽ không còn hiệu quả nếu chúng không bao giờ được thực hiện, và chúng không thể được thực hiện nếu không loại bỏ hoàn toàn đòn bẩy của Mỹ. Nếu Trump tiếp tục đe dọa rút quân nhưng không bao giờ thực sự làm như vậy, trò lừa bịp của ông ta sẽ bị vạch trần và sẽ mất đi sức mạnh cưỡng chế. Tuy nhiên, nếu Hoa Kỳ rút khỏi các cam kết quân sự của mình, thì đòn bẩy mà nước này từng có đối với các đồng minh cũ sẽ tan biến. Dù thế nào đi nữa, việc sử dụng lời hứa bảo vệ của Mỹ để đòi hỏi một loạt các nhượng bộ không ngừng nghỉ không phải là một chiến lược bền vững.
Cũng không phải là bắt nạt. Không ai thích bị ép buộc phải thực hiện những hành động hạ thấp nhân phẩm để thể hiện lòng trung thành. Các nhà lãnh đạo có chung quan điểm với Trump có thể thích thú với cơ hội ca ngợi ông ta trước công chúng, nhưng chắc chắn những người khác lại thấy trải nghiệm đó khó chịu. Chúng ta sẽ không bao giờ biết các nhà lãnh đạo nước ngoài bị buộc phải nịnh bợ Trump đã nghĩ gì khi họ ngồi đó và nói những lời sáo rỗng, nhưng chắc chắn một số người trong số họ đã oán giận trải nghiệm đó và ra về với hy vọng có cơ hội trả đũa trong tương lai. Các nhà lãnh đạo nước ngoài cũng phải tính đến phản ứng của công chúng trong nước, và lòng tự hào dân tộc có thể là một sức mạnh to lớn. Điều đáng nhớ là chiến thắng bầu cử của Carney vào tháng 4 năm 2025 phần lớn nhờ vào chiến dịch chống Trump mạnh mẽ của ông và nhận thức của cử tri rằng đối thủ của ông trong Đảng Bảo thủ chỉ là phiên bản nhẹ hơn của Trump. Các nguyên thủ quốc gia khác, chẳng hạn như Tổng thống Brazil Luiz Inácio Lula da Silva, đã chứng kiến sự nổi tiếng của họ tăng vọt khi họ bất chấp những lời đe dọa của Trump. Khi sự sỉ nhục ngày càng gia tăng, các nhà lãnh đạo thế giới khác có thể nhận thấy rằng việc phản kháng có thể khiến họ được lòng cử tri hơn.
Chủ nghĩa bá quyền mang tính trấn lột cũng không hiệu quả. Nó né tránh việc dựa vào các quy tắc và chuẩn mực đa phương và thay vào đó tìm cách hợp tác với các quốc gia khác trên cơ sở song phương. Nhưng trong một thế giới với gần 200 quốc gia, việc dựa vào đàm phán song phương tốn thời gian và chắc chắn sẽ tạo ra các thỏa thuận vội vàng và được thiết kế kém. Hơn nữa, việc áp đặt các thỏa thuận một chiều lên hàng chục quốc gia khác khuyến khích sự trốn tránh vì họ biết rằng sẽ rất khó để bá chủ giám sát việc tuân thủ và thực thi tất cả các thỏa thuận mà họ đã đạt được. Chính quyền Trump dường như đã nhận ra muộn màng rằng Trung Quốc chưa bao giờ mua tất cả các mặt hàng xuất khẩu của Mỹ mà họ đã đồng ý mua trong thỏa thuận thương mại Giai đoạn Một mà họ đã ký với Hoa Kỳ vào năm 2020, trong nhiệm kỳ đầu tiên của Trump, và đã khởi động một cuộc điều tra về vấn đề này vào tháng 10. Nhân rộng nhiệm vụ giám sát việc tuân thủ trên tất cả các thỏa thuận thương mại song phương của Washington, và dễ dàng nhận thấy các quốc gia khác có thể hứa hẹn nhượng bộ bây giờ nhưng lại bội ước sau đó.
Cuối cùng, việc từ bỏ các thể chế, hạ thấp các giá trị chung và bắt nạt các quốc gia yếu hơn sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các đối thủ của Hoa Kỳ viết lại luật lệ toàn cầu theo hướng có lợi cho lợi ích của họ. Dưới thời Tập Cận Bình, Trung Quốc đã nhiều lần cố gắng tự thể hiện mình là một cường quốc toàn cầu có trách nhiệm và vị tha, tìm cách củng cố các thể chế toàn cầu vì lợi ích của toàn nhân loại. Chính sách ngoại giao “chiến binh sói” đối đầu của vài năm trước, trong đó các quan chức Trung Quốc thường xuyên xúc phạm và bắt nạt các chính phủ khác mà không mang lại lợi ích gì, đã lỗi thời. Ngoại trừ một số trường hợp hiếm hoi, các nhà ngoại giao Trung Quốc hiện đang ngày càng năng động, tích cực và hiệu quả hơn tại các diễn đàn quốc tế.
Những tuyên bố công khai của Trung Quốc rõ ràng là nhằm phục vụ lợi ích của chính mình, nhưng một số quốc gia coi lập trường này là một lựa chọn hấp dẫn thay thế cho một Hoa Kỳ ngày càng hung hăng. Trong một cuộc khảo sát 24 quốc gia lớn, được Trung tâm Nghiên cứu Pew công bố hồi tháng 7 năm ngoái, đa số người dân ở 8 quốc gia có cái nhìn thiện cảm hơn về Hoa Kỳ so với Trung Quốc, trong khi người trả lời từ 7 quốc gia lại có cái nhìn thiện cảm hơn về Trung Quốc. Hai cường quốc được đánh giá tương tự nhau ở 9 quốc gia còn lại. Nhưng xu hướng lại nghiêng về phía Bắc Kinh. Như báo cáo đã lưu ý, “Quan điểm về Hoa Kỳ trở nên tiêu cực hơn trong khi quan điểm về Trung Quốc lại trở nên tích cực hơn”. Không khó để hiểu tại sao.
Tóm lại, việc hành động như một bá chủ trấn lột sẽ làm suy yếu các mạng lưới quyền lực và ảnh hưởng mà Hoa Kỳ từ lâu đã dựa vào và tạo ra đòn bẩy mà Trump hiện đang cố gắng khai thác. Một số quốc gia sẽ nỗ lực giảm sự phụ thuộc vào Washington, những quốc gia khác sẽ thiết lập các thỏa thuận mới với các đối thủ của Hoa Kỳ, và không ít quốc gia sẽ khao khát một thời điểm khi họ có cơ hội trả đũa Hoa Kỳ vì hành vi ích kỷ của nước này. Có thể không phải hôm nay, có thể không phải ngày mai, nhưng một phản ứng dữ dội có thể đến với tốc độ đáng ngạc nhiên. Trích dẫn câu nói nổi tiếng của Ernest Hemingway về sự khởi đầu của phá sản, một chính sách bá quyền trấn lột nhất quán có thể khiến ảnh hưởng toàn cầu của Hoa Kỳ suy giảm "dần dần rồi đột ngột".
MỘT CHIẾN LƯỢC THẤT BẠI
Sức mạnh cứng rắn vẫn là đơn vị tiền tệ chính trong chính trị thế giới, nhưng mục đích và cách thức sử dụng nó mới là yếu tố quyết định liệu nó có hiệu quả trong việc thúc đẩy lợi ích của một quốc gia hay không. Được ưu ái về địa lý, nền kinh tế lớn mạnh và phát triển, sức mạnh quân sự vô song, và kiểm soát đồng tiền dự trữ của thế giới cùng các trung tâm tài chính quan trọng, Hoa Kỳ đã xây dựng được một mạng lưới kết nối và phụ thuộc phi thường, đồng thời giành được đòn bẩy đáng kể đối với nhiều quốc gia khác trong 75 năm qua.
Vì việc khai thác đòn bẩy đó quá công khai sẽ làm hại nó, chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ thành công nhất khi các nhà lãnh đạo Mỹ sử dụng quyền lực trong tay một cách kiềm chế. Họ hợp tác với các quốc gia cùng chí hướng để tạo ra các thỏa thuận cùng có lợi, hiểu rằng các quốc gia khác sẽ dễ hợp tác với Hoa Kỳ hơn nếu họ không sợ tham vọng của nước này. Không ai nghi ngờ rằng Washington có một nắm đấm bọc thép. Nhưng bằng cách che giấu nó trong một chiếc găng tay nhung—đối xử với các quốc gia yếu hơn một cách tôn trọng và không cố gắng vắt kiệt mọi lợi thế có thể từ các quốc gia khác—Hoa Kỳ đã có thể thuyết phục các quốc gia quan trọng nhất trên thế giới rằng việc liên kết với chính sách đối ngoại của mình là tốt hơn so với việc hợp tác với các đối thủ chính của họ.
Chủ nghĩa bá quyền mang tính trấn lột đã lãng phí những lợi thế này để theo đuổi lợi ích ngắn hạn và bỏ qua những hậu quả tiêu cực lâu dài. Chắc chắn rằng, Hoa Kỳ sẽ không phải đối mặt với một liên minh đối trọng hùng mạnh hay mất đi nền độc lập của mình—nước này quá mạnh và có vị thế thuận lợi để phải chịu số phận đó. Tuy nhiên, Hoa Kỳ sẽ trở nên nghèo hơn, kém an toàn hơn và ít ảnh hưởng hơn so với hầu hết thời gian người Mỹ hiện đang sống. Các nhà lãnh đạo tương lai của Hoa Kỳ sẽ hoạt động từ một vị thế yếu hơn và sẽ phải đối mặt với một cuộc chiến khó khăn để khôi phục danh tiếng của Washington như một đối tác có lợi ích riêng nhưng công bằng. Chủ nghĩa bá quyền mang tính trấn lột là một chiến lược thất bại, và chính quyền Trump từ bỏ nó càng sớm càng tốt.
STEPHEN M. WALT is Robert and Renee Belfer Professor of International Affairs at the Havard Kennedy School
|
|