CUNG HIỀN, NHÀ THI HỌA CÓ SỐ PHẬN HẨM HIU

Phan Nhật Tân dịch

 
 
 

Kim Lăng Bát Đại Gia, 清,龔 賢 Thanh, Cung Hiền

Cung Hiền (1618-1689) là nhà danh hoạ nổi tiếng trong Kim Lăng bát đại gia, tự Bán Thiên, Bán Mẫu, hiệu Dã Di, lại có các tên hiệu khác là Sài Trượng Nhân, Chung Sơn Dã Lão; là người huyện Côn Sơn, Giang Tô, lưu ngụ tại Kim Lăng (nay là thành phố Nam Kinh.) Vôn dòng dõi quan hoạn, nhưng bất hạnh mẹ mất sớm lúc 11 tuổi, cha và anh thất lạc trong buổi giao thời Minh mạt Thanh sơ, nên phải phiêu bạt lưu ly. Theo Đổng kỳ Xương học hội hoạ, tham gia Hạ xã (nhóm công tác mùa hè) nhằm phục hưng văn học thi ca thư pháp. Suốt đời lận đận vì cơm áo; một thân cô khổ lênh đênh đến lúc lâm chung, có tài nhưng không có danh, sớm nổi tiếng về thơ. Tuy nghèo nhưng rất chịu khó làm việc, sưu tầm và chép lại hàng trăm tác phẩm chưa từng được biên chép vào tập “Trung Vãn Đường Thi Kỷ”

Sáng Tác

Tranh vẽ:
Thâm Sơn Phi Bạo, Cấp Hiệp Phong Phàm, Mộc Diệp Đan Hoàng, Trùng Sơn Yên Thụ, Khê Sơn Nhân Gia, Vân Lâm Tây Viên

Trước Tác:
Hoạ Quyết, Sài Trượng Nhân Hoạ Cảo, Cung Bán Thiên Khoá Đồ Hoạ Thuyết, Bán Mẫu Viên Thi Thảo, Bán Mẫu Viên Xích Độc, Thảo Hương Đường Tập, Trung Vãn Đường Thi Kỷ

Trích các bài thơ tiêu biểu:

掃 葉

掃 葉 何 時 儘,
秋 風 秋 雨 多。
四 山 聲 不 斷,
一 樹 寂 如 何?

Tảo diệp

Tảo diệp hà thì tận,
Thu phong thu vũ đa.
Tứ sơn thanh bất đoạn,
Nhất thụ tịch như hà?

Quét Lá

Quét lá chừng nào hết?
Mùa thu gió mưa nhiều
Bốn bề vang tiếng núi
Cây rũ cũng đìu hiu!

扁 舟

扁 舟 當 曉 發,
沙 岸 杳 然 空。
人 語 蠻 煙 外,
雞 鳴 海 色 中。
短 衣 曾 去 國,
白 首 尚 飄 蓬。
不 讀 荊 軻 傳,
羞 為 一 劍 雄。

Thiên chu

Thiên chu đương hiểu phát,
Sa ngạn yểu nhiên không.
Nhân ngữ man yên ngoại,
Kê minh hải sắc trung.
Đoản y tằng khứ quốc,
Bạch thủ thượng phiêu bồng.
Bất độc Kinh Kha truyện,
Tu vi nhất kiếm hùng.

Thuyền con

Thuyền con đi thật sớm
Bờ cát lặng như không
Người gọi ngoài sương khói
Gà kêu sắc biển trong
Áo ngắn đành bỏ nước
Tóc phai còn phiêu bồng
Chuyện Kinh Kha chẳng đọc
Thẹn mang kiếm xưng hùng

飲 徐 氏 園

春 來 無 此 日,
午 過 尚 如 朝。
水 氣 亭 三 面,
城 陰 柳 半 腰。
清 歌 連 白 舫,
長 笛 隔 紅 橋。
最 是 歡 娛 地,
年 華 覺 易 消。

Ẩm Từ thị viên

Xuân lai vô thử nhật,
Ngọ quá thượng như triêu.
Thuỷ khí đình tam diện,
Thành âm liễu bán yêu.
Thanh ca liên bạch phảng,
Trường địch cách hồng kiều.
Tối thị hoan ngu địa,
Niên hoa giác dị tiêu.

Uống rượu ở Vườn họ Từ

Xuân nào như hôm nay
Quá trưa như sớm mai
Ba mặt đình rợn nước
Thành cao liễu nửa vời
Sàn thuyền liền giọng hát
Cầu hồng tiếng sáo bay
Càng ở nơi vui thú
Tuổi càng chóng tàn phai

晚 出 燕 子 磯 東 下

江 天 忽 無 際,
一 舸 在 中 流。
遠 岫 已 將 沒,
夕 陽 猶 未 收。
自 憐 為 客 慣,
轉 覺 到 家 愁。
別 酒 初 醒 處,
蒼 煙 下 白 鷗。

Vãn xuất Yến tử ky đông hạ

Giang thiên hốt vô tế,
Nhất khả tại trung lưu.
Viễn tụ dĩ tương một,
Tịch dương do vị thu.
Tự liên vi khách quán,
Chuyển giác đáo gia sầu.
Biệt tửu sơ tỉnh xứ,
Thương yên hạ bạch âu.

Chiều qua ghềnh Yến tử về đông

Trời nước thôi ngằn mé
Con thuyền giữa dòng trôi
Núi mờ xa sắp khuất
Chiều nắng còn chưa rời
Thương ta thân làm khách
Sầu nhà làm sao vơi
Rượu chia ly vừa tỉnh
Sương khói trắng chim trời

漁 歌 子

自 挽 扁 舟 不 到 家,月 明 隨 處 有 蘆 花。羹 鱠 鯽,飯 蒸 蝦,風 引 炊 煙 一 道 斜。
由 來 百 姓 也 無 名,身 託 煙 波 過 一 生。風 露 重,蓑 衣 輕,睡 熟 船 頭 換 不 醒。
稻 是 魚 蝦 水 是 田,催 租 無 吏 到 門 前。閒 便 鈎,醉 仍 眠,那 有 兇 豐 不 問 年。
手 持 竿 子 坐 寒 苔,霜 落 高 天 鬢 髮 催。一 心 足,兩 眉 開,勝 向 朱 門 投 刺 來。
紅 蝦 紫 蟹 做 羹 湯,斛 米 蓬 須 縮 酒 漿。能 醉 飽,傲 侯 王。扣 舷 一 曲 在 滄 浪。
門 市 湫 隘 足 煙 塵,爽 塏 何 如 坐 釣 津?風 細 細,水 粼 粼,照 澈 漁 家 月 一 輪。
身 是 漁 郎 不 釣 魚,滿 船 酒 具 滿 船 書。閒 去 去,且 徐 徐,只 當 移 家 野 外 居。
世 間 野 水 沒 人 爭,豈 有 金 戈 鐵 馬 聲。青 鶴 立,白 鷗 鳴,我 與 幽 禽 不 受 驚。

Ngư ca tử

Tự vãn biên chu bất đáo gia, nguyệt minh tuỳ xứ hữu lô hoa.
Canh khoái tức, phạn chưng hà, phong dẫn xuy yên nhất đạo tà.
Do lai bách tính dã vô danh, thân thác yên ba quá nhất sinh.
Phong lộ trọng, toa y khinh, thuỵ thục thuyền đầu hoán bất tỉnh.
Đạo thị ngư hà thuỷ thị điền, thôi tô vô lại đáo môn tiền.
Nhàn tiện câu, tuý nhưng miên, na hữu hung phong bất vấn niên.
Thủ trì can tử toạ hàn đài, sương lạc cao thiên mấn phát thôi.
Nhất tâm túc, lưỡng mi khai, thắng hướng châu môn đầu thích lai.
Hồng hà tử giải tố canh thang, hộc mễ bồng tu súc tửu tương.
Năng tuý bão, ngạo hầu vương. Khấu huyền nhất khúc tại thương lãng.
Môn thị tưu ải túc yên trần, sảng khải hà như toạ điếu tân?
Phong tế tế, thuỷ lân lân, chiếu triệt ngư gia nguyệt nhất luân.
Thân thị ngư lang bất điếu ngư, mãn thuyền tửu cụ mãn thuyền thư.
Nhàn khứ khứ, thả từ từ, chỉ đương di gia dã ngoại cư.
Thế gian dã thuỷ một nhân tranh, khởi hữu kim qua thiết mã thanh.
Thanh hạc lập, bạch âu minh, ngã dữ u cầm bất thụ kinh.

Bài ca ông câu

Thuyền chèo một lá nhà về đâu, trăng soi chốn chốn nở hoa lau
Canh gỏi cá, cơm tôm hàu, gió lùa khói bếp nghiêng nghiêng đầu
Xưa nay dân dã chẳng họ tên, gởi thân khói sóng đời tìm quên
Gió sương nặng, áo tơi mềm, nằm vùi đầu thuyền, gọi ngủ yên.
Cá là gạo, ruộng là nước sông, đòi thuế nào ai gõ cửa ông
Rảnh buông cần say ngủ mòng, lo gì năm tốt với năm rông
Tay cầm cần mạn thuyền lạnh ngồi, sương rơi trời cao bạc tóc rồi
Lòng biết đủ, mắt như cười, hơn luồn cửa son đầu mọc gai
Tép hồng cua tím nấu làm canh, rượu rau mỏ vịt ủ mà thành
Đủ no say hơn công khanh, đàn ta gẩy khúc giữa mông mênh
Ngõ chợ chật hẹp bụi lem chân, cao sạch sao bằng chỗ buông cần
Gió nhè nhẹ nước lăn tăn, trăng sáng soi nhà lão một vầng
Thân làm ông câu cá chẳng câu, đầy thuyền sách, rượu chén lại bầu
Rảnh qua lại, bước từ từ, giống như dời nhà ra đồng sâu
Nước trời mênh mông chẳng ai giành, khỏi nghe vó ngựa, tiếng đao tranh
Chim âu trắng, cò vạc xanh, ta với bầy chim khỏi giật mình.